Ngày 14/6/2005, Luật Quốc phòng được Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Sau 12 năm thực hiện, Luật đã góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, và trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành và nhiều chủ trương, quan điểm mới của Đảng quy định mới của liên quan đến quân sự, quốc phòng chưa được thể chế và cụ thể hóa, chưa thống nhất, đồng bộ với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan về quốc phòng, an ninh. Nhiều nội dung về hoạt động quốc phòng còn đang được điều chỉnh ở văn bản quy phạm pháp luật tính pháp lý không cao, hoặc chưa được điều chỉnh, hoặc điều chỉnh chưa đầy đủ, chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật Quốc phòng (sửa đổi) là cần thiết.
Sau khi nghiên cứu Dự thảo Luật Quốc phòng (sửa đổi), tác giả nhận thấy, Dự thảo Luật có một số Điểm, Khoản cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp và các Luật khác có liên quan. Trong nội dung bài viết, tác giả đề nghị sửa đổi, bổ sung một số vấn đề sau:
1/ Điểm a khoản 2 Điều 11 của Dự thảo quy định:
a) Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên, người học trong các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở giáo dục nghề nghiệp;
Nên bỏ đoạn: cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Vì: K1 Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định: ”Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên”. Việc lập lại ”cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở giáo dục nghề nghiệp” là không đúng theo nội dung của Luật Ban hành văn bản 2015 (khoản 2 Điều 8 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định:” 2…, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác”)
Do đó, Khoản này nên viết lại: a) Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên, người học trong các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
2/ Điểm b khoản 2 Điều 11 của dự thảo quy định:
b) Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong cơ quan, tổ chức của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, người quản lý doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư;
Nên bỏ cụm từ: Người quản lý.
Vì, Điều 2 của Dự thảo quy định về Đối tượng áp dụng thì: “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Mỗi người dân, cá nhân ở các tổ chức xã hội tùy vào cương vị công tác sẽ có ý thức trách nhiệm trong việc góp phần vào thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Khi các đối tượng này nắm vững kiến thức quốc phòng sẽ giúp phổ biến kiến thức quốc phòng ở cơ sở và chủ động thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng cấp bách ở địa phương trong việc huy động nguồn lực, nhân lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.
Do đó, có thể khẳng định rằng trách nhiệm trong việc thực hiên nghĩa vụ quốc phòng là của toàn dân, không phân biệt tổ chức nhà nước và ngoài quốc doanh và người quản lý hay người lao động trong doanh nghiệp. Vì thế, khoản này cần viết lại như sau: b) Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong cơ quan, tổ chức của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư”.
3/ Về tình trạng khẩn cấp của quốc phòng:
Khoản 13 Điều 70 Hiến pháp 2013 quy định Quốc hội ”13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia”. Có thể hiểu Điều này theo nghĩa: Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng ”nằm” trong quy định về tình trạng khẩn cấp.
Và khoản 2 Điều 8 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định:” 2…, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác”. Như vậy, việc Hiến pháp đã quy định cụ thể về tình trạng khẩn cấp và nội hàm của ”nó” đã bao gồm: tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (nếu có) bên cạnh các tình trạng khẩn cấp về các lĩnh vực khác (nếu có).
Do đó, đề nghị cần nghiên cứu kỹ và cân nhắc không nên quy định“Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng” như trong dự thảo Luật Quốc phòng (sửa đổi) để bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
4/ Về kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội và kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng (Điều 16)
- Đề nghị sửa đổi quy định về kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội và kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng theo hướng thống nhất dùng chung khái niệm đơn vị quân đội được giao thực hiện nhiệm vụ kinh tế kết hợp với quốc phòng không bao gồm doanh nghiệp vụ phục quân đội vì trên thực tế có không ít các doanh nghiệp ”dán mác” phục vụ quốc phòng nhưng ”giành đất ở những vị trí vàng, đắc địa” để phục vụ mục đích dân sự của chính doanh nghiệp. Vì vậy, để phòng ngừa lợi ích nhóm, nên bỏ cụm từ doanh nghiệp phục vụ quốc phòng được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 16 của Dự thảo cho phù hợp với thực tiễn. Do đó, đề nghị sửa đổi theo hướng:
”c) Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan lập kế hoạch về nhu cầu quốc phòng và khả năng kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội trong thời bình, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh; tổ chức, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng; tổ chức, quản lý hoạt động của đơn vị quân đội được giao thực hiện nhiệm vụ kinh tế kết hợp với quốc phòng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
- Tương tự như đã viện dẫn trên, tại Điểm đ của Khoản 2 bỏ cụm từ: Cơ quan, tổ chức và cá nhân mà sửa lại như sau: ”đ. Đơn vị quân đội được giao thực hiện nhiệm vụ kinh tế khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ phải kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng”.
Ngọc Gia