Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 (sau đây gọi là Luật năm 2003) đã quy định khá rõ ràng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các Ban HĐND vẫn còn gặp nhiều vấn đề thực tế phát sinh nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh. Do vậy, nhằm tạo điều kiện để các Ban của HĐND hoạt động tốt nhất và nâng cao hiệu quả công tác, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sau đây gọi là Luật năm 2015) ra đời đã bổ sung những quy định về tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND mà Luật năm 2003 còn để khuyết.
So với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có nhiều điểm mới về tổ chức và hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân như sau:
- Một là, địa vị pháp lý và chế độ trách nhiệm của Ban của HĐND đã được quy định rõ ràng và cụ thể hơn so với Luật năm 2003, cụ thể:
Luật năm 2015 quy định Trưởng Ban của HĐND là thành viên của Thường trực HĐND. Theo quy định của Luật năm 2015, thành viên Thường trực HĐND được tăng lên về số lượng, và như vậy, ngoài Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐND thì Trưởng các Ban của HĐND cũng đồng thời là thành viên của Thường trực HĐND. Nếu như trước đây, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND chỉ là việc của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và một Ủy viên TT HĐND (theo Luật năm 2003) thì nay, theo quy định của Luật mới, Trưởng các Ban của HĐND có thể cùng tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND. Hoạt động giám sát, khảo sát và một số hoạt động khác của các Ban của HĐND có những lúc trùng lắp về thời gian, địa điểm,...vì vậy, khi các Trưởng ban là thành viên của Thường trực HĐND sẽ giúp cho việc điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Trưởng ban của Hội đồng nhân dân là thành viên của Thường trực HĐND cũng góp phần nâng cao thêm vị thế của Ban trong các hoạt động của Ban.
“Ban của HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trong thời gian HĐND không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực HĐND” (theo quy định tại Khoản 6 Điều 109 Luật năm 2015) trong khi, trước đó, Luật năm 2003 chỉ quy định “Ban của HĐND có nhiệm vụ báo cáo kết quả hoạt động giám sát với TT HĐND khi cần thiết”. Đây là quy định mới về nhiệm vụ của Ban của HĐND nhưng lại góp phần nâng cao hơn vị thế của Thường trực HĐND trong công tác “điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND” vì nếu Ban của HĐND không báo cáo tình hình hoạt động với TT HĐND thì TT HĐND không thể tiến hành điều hòa, phối hợp các hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình.
Bên cạnh đó, Luật tổ chức chính quyền địa phương cũng quy định thêm việc thành lập Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân cấp xã. Mặc dù Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên của các Ban của HĐND xã chỉ hoạt động kiêm nhiệm nhưng với việc thành lập Ban của HĐND cấp xã đã là một bước tiến mới. Thay vì hoạt động của HĐND xã chỉ chủ yếu tập trung vào Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND như lúc trước thì việc thành lập thêm hai Ban của HĐND xã (mặc dù tất cả các thành viên của Ban, kể cả Trưởng ban, Phó Trưởng ban đều hoạt động kiêm nhiệm) làm cho hoạt động của HĐND cấp xã phong phú hơn, giảm áp lực đối với HĐND cấp trên trong việc giám sát các hoạt động của địa phương. Việc thành lập thêm hai Ban của HĐND cấp xã cũng làm cho vị thế của HĐND xã được nâng cao.
- Hai là, nhân lực thực hiện nhiệm vụ của các Ban được tăng cường, tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân và Hội đồng nhân dân.
Luật năm 2015 quy định tăng số lượng thành viên các Ban của HĐND, cụ thể là tăng số lượng Phó Trưởng ban. Luật năm 2015 nêu rõ: Ban của HĐND tỉnh gồm có Trưởng ban, không quá hai Phó Trưởng ban và các Ủy viên; Ban của HĐND huyện gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Có thể thấy, về mặt pháp lý, so với Luật năm 2015, Luật năm 2003 đã không quy định cụ thể số lượng Phó Trưởng ban của Ban của Hội đồng nhân dân mà chỉ quy định “Số lượng thành viên của mỗi Ban do HĐND cùng cấp quyết định”. Vậy, trong “số lượng thành viên của mỗi Ban” thì có bao nhiêu Phó Trưởng ban và số lượng các Phó Trưởng ban của Ban của HĐND có do HĐND cùng cấp quyết định luôn hay không hay bị chi phối bởi yếu tố khác mới có thể quyết định được số lượng Phó Trưởng ban. Cho nên, Luật năm 2015 quy định cụ thể số lượng các Phó Trưởng ban của HĐND đã giải quyết được vấn đề mà Luật năm 2003 còn để trống và gây lung túng cho công tác tổ chức cán bộ chuyên trách đối với HĐND. Với việc quy định rõ ràng và cụ thể số lượng các Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức nhân sự của Ban.
Luật năm 2015 cũng quy định việc tăng số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó, về phương diện tổ chức của Ban của HĐND, Luật năm 2015 đã quy định Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Trước đó, Luật năm 2003 đã không đề cập đến vấn đề Trưởng ban và các Phó Trưởng ban có phải là đại biểu hoạt động chuyên trách hay không. Trong khi đó, với khối lượng công việc rất lớn cần phải giải quyết thì đòi hỏi lãnh đạo các Ban của HĐND phải là đại biểu hoạt động chuyên trách mới có thể đảm đương hết các nhiệm vụ. Thực hiện quy định của Luật mới, nhiệm kỳ 2016-2021, các Phó Trưởng ban của các Ban HĐND đều là đại biểu hoạt động chuyên trách. Đối với chức danh Trưởng ban của HĐND thì tùy vào khối lượng công việc của từng Ban mà bố trí Trưởng ban là đại biểu hoạt động chuyên trách hay kiêm nhiệm.
- Ba là, Khảo sát tình hình thực tiễn là một nhiệm vụ mới được Luật năm 2015 quy định.
Đối với hoạt động khảo sát, Luật năm 2015 quy định: Ban của HĐND có nhiệm vụ “tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc TT HĐND phân công”, “khảo sát tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án” để chuẩn bị cho việc thẩm tra. Việc khảo sát thực tiễn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong công tác thẩm tra các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết, bởi vì kết quả khảo sát là cơ sở thực tiễn để hoạt động thẩm tra của Ban HĐND mang lại hiệu quả cao hơn.
Trong công tác thẩm tra các dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án: Khoản 1 Điều 111 Luật năm 2015 quy định “Ban của Hội đồng nhân dân cử thành viên tham gia nghiên cứu dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; yêu cầu cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề mà Ban thẩm tra; tổ chức họp lấy ý kiến của những người am hiểu về vấn đề đó; khảo sát tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án” để chuẩn bị cho việc thẩm tra chứ không chỉ đơn thuần là đọc các tờ trình, báo cáo,…rồi tiến hành thẩm tra trên giấy. Việc khảo sát thực tế những vấn đề liên quan đến nội dung thẩm tra giúp cho Ban có nhiều thông tin xác thực về sự cần thiết trình HĐND, góp phần đảm bảo cho chính sách được ban hành đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân, góp phần vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Ngoài khảo sát phục vụ công tác thẩm tra, Ban của HĐND còn khảo sát việc thực hiện các nghị quyết đã được HĐND ban hành thuộc lĩnh vực Ban phụ trách, tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc TT HĐND phân công. Việc Luật năm 2003 không quy định cụ thể hoạt động khảo sát của Ban làm cho hoạt động của Ban mờ nhạt, hoạt động khảo sát chưa được tiến hành thường xuyên và chưa kịp thời. Trong khi đó, khảo sát thực tế là hoạt động cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên để có cơ sở tiến hành các hoạt động khác (giám sát, thẩm tra,…) của Ban. Mặt khác, trước khi Luật năm 2015 ra đời, việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực của Ban phụ trách (trong đó có cả các nghị quyết do HĐND ban hành) vẫn còn bỏ ngõ, chưa được kiểm chứng tính đúng đắn và tính phù hợp thực tiễn. Vì vậy, việc quy định hoạt động khảo sát của Ban như Luật hiện nay là phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, trong đó có Ban của HĐND, nhất là trong công tác thẩm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản của địa phương nói chung và nghị quyết của HĐND nói riêng.
- Bốn là, hoạt động giám sát của các Ban Hội đồng nhân dân đã được quy định cụ thể tại 07 điều (Mục 3, Chương 3) của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Giám sát là chức năng chủ yếu trong hoạt động của HĐND, trong đó có Ban của HĐND. Hoạt động thẩm tra, giám sát, khảo sát của Ban của HĐND ngoài được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 còn được quy định rất rõ ràng và chi tiết trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.
Theo các quy định tại Mục 3, Chương 3 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, ngoài các hoạt động giám sát thường xuyên như giám sát văn bản quy phạm pháp luật, thẩm tra các báo cáo, đề án,…(cũng đã được quy định trong Luật năm 2003), Ban của Hội đồng nhân dân còn có nhiệm vụ giám sát chuyên đề và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
Giám sát chuyên đề là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015). Không giống các hoạt động giám sát thường xuyên, nội dung giám sát chuyên đề được lựa chọn là những nội dung quan trọng có tác động mạnh đến đời sống người dân và trong phát triển kinh tế - xã hội; đối tượng chịu sự giám sát và địa bàn giám sát rộng; thời gian triển khai giám sát dài, do đó, chủ thể giám sát có điều kiện xem xét, nghiên cứu kỹ những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát. Đúng với tên gọi, giám sát chuyên đề của Ban của HĐND là quy định mới nhưng thể hiện được tầm quan trọng và sự cần thiết của mình vì qua hoạt động giám sát chuyên đề có thể phát hiện những mặt được, chưa được,…trong việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước để có thể kiến nghị giải pháp phù hợp tình hình thực tế địa phương. Giám sát chuyên đề của Ban không chỉ được căn cứ vào chương trình giám sát hằng năm của Ban mà còn được tiến hành qua giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua phương tiện thông tin đại chúng, ý kiến, kiến nghị của cử tri phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc được HĐND, Thường trực HĐND giao.
Ngoài ra, đối với hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân thì “Ban của Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; tổ chức Đoàn giám sát để giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị tại địa phương”. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị tại địa phương được thực hiện theo quy định pháp luật, tuy nhiên, kết quả giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không phải lúc nào cũng luôn luôn đúng và nhận được sự đồng thuận cao từ phía người dân. Với một khối lượng lớn các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phải được xử lý hằng ngày, việc xảy ra sai sót là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, với việc bổ sung thêm nhiệm vụ giám sát việc thi hành pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương, Luật năm 2015 đã nâng cao vai trò, vị trí của Ban của HĐND trong hoạt động của mình.
Với các điểm mới nêu trên, các Ban HĐND đã có đủ cơ sở, điều kiện để tổ chức và hoạt động hiệu quả, thể hiện được vai trò, trách nhiệm của cơ quan dân cử, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội địa phương./.
Kim Nhạn