[Đăng ngày: 05/05/2017]


                                                                                                          Thạc sĩ, Phan Gia Ngọc
Phó Chánh Văn phòng HĐND tỉnh Khánh Hòa

  Đặt vấn đề:

  Luật pháp hình sự của mỗi một nước đều không thể thiếu quan điểm, chính sách, đường lối, chủ trương của Nhà nước về phương thức xử lý người phạm tội nói chung và người chưa thành niên nói riêng khi họ thực hiện hành vi phạm tội. Đối với Việt Nam, cùng với việc phát triển về kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, … trong những năm gần đây, các vụ án do người chưa thành niên phạm tội đã tăng lên về số lượng và có chiều hướng diễn biến ngày càng phức tạp. Người chưa thành niên là người chưa phát triển một cách đầy đủ về tâm - sinh lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế nên dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng dễ giáo dục, thuyết phục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải có chính sách đặc biệt khi áp dụng các chế tài hình sự và quan trọng nhất trong vấn đề này là độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Việc điều chỉnh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm làm sao bảo đảm sự phát triển, giáo dục ngay cả khi kết hợp với răn đe, trừng phạt cũng nhằm giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn phù hợp với điều kiện thực tế khách quan của nước ta và phù hợp với các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Những quan điểm này không chỉ nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết đối với các cơ quan, người tiến hành tố tụng tránh được sự lạm dụng, vi phạm pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, mà còn là dấu hiệu cho phép xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và xây dựng hình ảnh về tính nghiêm minh của pháp luật giúp cho người chưa thành niên tự chấn chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với luật pháp. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự 2015”.

  I/ Các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên

  1.1. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009)

  Tính đến nay, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã qua 05 (năm) lần sửa đổi, bổ sung. Những sửa đổi, bổ sung này đã đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới.

  Trên cơ sở căn cứ khoa học cũng như từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, có thể nói Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Phần chung đã kế thừa, hoàn thiện và bổ sung những quy định trong BLHS 1985 kết hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên. Cụ thể, Điều 12 BLHS 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: (i) Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. (ii) Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Đồng thời Chương X của BLHS 1999 còn quy định cụ thể về đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội và việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ (Điều 68-71 BLHS 1999).

  Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bởi lẽ không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong Luật hình sự, chỉ khi ở những điều kiện nhất định (đạt đến độ tuổi theo luật định) thì mới trở thành chủ thể của tội phạm. 

  Điều 69 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

  "1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

  Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

  2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

  3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

  4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

  5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
 
  Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

  Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

  6. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm".

  Khoản 1 Điều 70 BLHS quy định các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây: (a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (b) Đưa vào trường giáo dưỡng.

  Về hình phạt thì người chưa thành niên phạm tội chỉ có thể bị xử phạt bằng một trong các hình phạt sau đây: (i) Cảnh cáo, (ii) phạt tiền, (đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi đã có thu nhập hoặc có tài sản riêng); (iii) cải tạo không giam giữ hoặc (iv) tù có thời hạn (Điều 71). 

  Hình phạt cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức được miễn hình phạt. Các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 BLHS.

  Hình phạt tiền là việc buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, không phải người phạm tội nào cũng bị áp dụng hình phạt này. Luật quy định không áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, do ở độ tuổi này, người phạm tội đang ở độ tuổi đi học, chưa có thu nhập hay tài sản riêng; nếu áp dụng biện pháp cưỡng chế có tính chất kinh tế sẽ đem lại gánh nặng cho gia đình họ, gây ảnh hưởng xấu trong việc sửa chữa sai lầm, không bảo đảm được mục đích của hình phạt. 

  Hình phạt cải tạo không giam giữ là không buộc người chưa thành niên phạm tội phải cách ly khỏi xã hội nhưng chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi họ cư trú. Hình phạt này có tính khả thi cao và nhân đạo, thể hiện mục đích giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội, tạo điều kiện giúp họ sửa chữa sai lầm, tự hòa nhập cộng đồng. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội tối thiểu là 06 tháng và tối đa là 18 tháng. 

  Nếu bị xử phạt tù thì người chưa thành niên chỉ bị phạt tù có thời hạn: Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản 2 Điều 74).

  Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, vì nó tước tự do của người chưa thành niên bị kết án, cách ly khỏi xã hội trong một khoảng thời gian, phải học tập, lao động trong trại giam, trại cải tạo. Đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định.

  Ngoài ra, theo quy định tại Điều 77 BLHS thì thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 BLHS. Người chưa thành niên phạm tội, nếu được áp dụng những biện pháp tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 70 của BLHS thì không bị coi là có án tích.
Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội nói trên được qui định trong BLHS đã thể hiện đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội, phù hợp với các yêu cầu của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã được Nhà nước ta ký kết và tham gia. 

  Điều 37 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em qui định: Các Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng: (i) Không trẻ em nào phải chịu sự tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay bị làm mất phẩm giá. Sẽ không áp dụng án tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng phóng thích; (ii) Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được dùng đến như một biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất; (iii) . Mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người, theo cách thức có tính đến các nhu cầu của những người ở lứa tuổi các em. Đặc biệt, mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được cách ly với người lớn, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ mà không nên làm như vậy, và các em phải có quyền duy trì sự tiếp xúc với gia đình qua thư từ và các cuộc viếng thăm, trừ những trường hợp ngoại lệ; và (iv) Mọi trẻ em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự trợ giúp pháp lý và những trợ giúp thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô tư khác và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất kỳ hành động nào như vậy.

  1.2. Bộ luật Tố tụng hình sự

  Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) đã dành toàn bộ Chương XXXII - Phần thứ bảy quy định về Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trên cơ sở kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/1988, quy định về thủ tục tố tụng áp dụng trong trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên.

  Theo quy định tại Điều 303 của BLTTHS và Thông tư liên tịch số 01/VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số qui định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên thì việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên được thực hiện như sau:

  - Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS. Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp. Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS.

  Đối với người chưa thành niên đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do đối với họ. 

  - Biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, chỉ có thể được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; 

  - Khi bắt giữ người chưa thành niên phạm tội, trong trường hợp cần thiết phải sử dụng vũ lực thì việc sử dụng vũ lực phải theo đúng quy định của pháp luật và chỉ ở mức độ đủ để kiểm soát người chưa thành niên phạm tội.

  - Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam.

  - Người chưa thành niên phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên. Khi xét thấy người chưa thành niên phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra.

  Chế độ tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

  - Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo bằng văn bản cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Khoản 3 Điều 303 BLTTHS.

  - So sánh với quy định của BLTTHS năm 1988, Điều 303 của BLTTHS đã quy định bổ sung khoản 3, trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, ng¬ười đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm taọ điều kiện cho họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà BLTTHS cho phép để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.

  - Người chưa thành niên phải được giam, giữ ở khu vực riêng; không được giam, giữ người chưa thành niên chung với người đã thành niên. 

  BLTTHS không áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản bảo đảm đối với người phạm tội là người chưa thành niên đồng thời cũng quy định “cứng” trong những vụ án mà người phạm tội là người chưa thành niên thì việc tham gia tố tụng của người bào chữa là bắt buộc.

  Các quy định về thủ tục tố tụng thể hiện chính sách hình sự trong tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là thủ tục tố tụng đặc biệt, có những điểm khác biệt so với thủ tục thông thường, áp dụng với người thành niên phạm tội. Chính sách này không nhằm ngoài mục đích giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người chưa thành niên nhận ra lỗi lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hoà nhập cộng đồng và cuộc sống bình thường. Vì thế, sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải luôn tuân thủ đặc biệt nguyên tắc được coi là “suy đoán vô tội” quy định tại Điều 9 Bộ luật TTHS vì họ chưa phải là người có tội, không bị coi là người có tội vì chưa có bản án kết tội có hiệu lực của Toà án.

  1.3. Các văn bản pháp luật khác:

  - Luật Trẻ em 2016, có hiệu lực pháp luật ngày 1/7/2016 thay Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quy định, trẻ em là “Người dưới 16 tuổi” (Điều 1);

  - Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 21) quy định: (i) Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi; (ii) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện; (iii) Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; (iv) Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

  - Luật Thanh niên 2005 (Điều 1), quy định: Thanh niên trong Luật này là công dân Việt Nam từ “đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”;

  - Luật Xử lý VPHC 2012 (Điểm a khoản 1 Điều 5), quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính”.

  - BLLĐ 2012 (Điều 3), quy định: “1. Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, ...”.

  Như vậy, tuổi của người thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người; trình độ phát triển về nhận thức xã hội. Theo quy định tại các Luật nêu trên đối với người chưa thành niên, có bốn thuật ngữ: “trẻ em”, “người chưa thành niên”, “thanh niên” và “người lao động”. Các khái niệm này là không đồng nhất, nhưng chúng có mối quan hệ gần gũi và tương quan với nhau, “nó” không chỉ đơn thuần mô tả, đánh dấu tiến trình phát triển thể chất, tâm sinh lý của các độ tuổi chưa thành niên mà nó còn thể hiện việc đánh giá của pháp luật về sự tương quan giữa các độ tuổi nhằm đề ra chính sách chung trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ và giáo dục đối với độ tuổi này.


  II/ Kiến nghị và đề xuất:

  Từ những quy định của pháp luật trên cho thấy “thái độ” của luật pháp trong việc nhìn nhận, xem xét và đánh giá tội phạm do người chưa thành niên gây ra bên cạnh những dấu hiệu và căn cứ pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

  Người chưa thành niên do chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tâm sinh lý nên việc bảo vệ, chăm sóc, phòng ngừa và điều tra, xử lý người chưa thành niên phạm tội là vấn đề vừa mang tính pháp lý vừa mang tính nhân văn của cả hệ thống chính trị xã hội. Luật Tổ chức TAND năm 2014, về cơ cấu của hệ thống TAND, bên cạnh các Tòa chuyên trách như: Tòa Hình sự, Dân sự, Hành chính, Kinh tế, Lao động thì còn có Tòa Gia đình và người chưa thành niên. Tòa Gia đình và người chưa thành niên “ra đời” trong tổ chức bộ máy của hệ thống TAND là “dấu ấn” quan trọng và là một trong những thành công của tiến trình cải cách tư pháp nhằm triển khai có hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình Việt Nam; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng. Tòa Gia đình và người chưa thành niên sẽ là hình ảnh giáo dục, cảm hóa người chưa thành niên phạm tội hơn là một hình ảnh nghiêm khắc về sự trừng phạt của Tòa hình sự. Chế định Tòa gia đình và người chưa thành niên thể hiện tính nhân văn của pháp luật trong việc hỗ trợ về các mặt tư pháp, tinh thần, sức khỏe cho người chưa thành niên trong những vụ việc có liên quan pháp lý, góp phần đảm bảo việc xét xử khách quan, công bằng nhưng thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, tránh cho người chưa thành niên bị tâm lý mặc cảm, tự ti, khủng hoảng tâm lý, tinh thần sau này khi được tái hòa nhập cộng đồng. Tòa gia đình và người chưa thành niên này không nằm ngoài mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt tù chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết. Do đó, dự thảo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi theo hướng giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do người chưa thành niên thực hiện là chưa hợp lý, không phải là giải pháp tối ưu nhất hiện nay, không bảo đảm được hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, trái ngược với các quan điểm và tiêu chuẩn quốc tế, gắn việc trừng phạt với hình phạt là nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm mà không giải quyết nguyên nhân sâu xa của tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, đó là: điều kiện sinh hoạt và mức sống còn thấp, có hoàn cảnh gia đình “đặc biệt”, cha mẹ thiếu quan tâm đến con cái, bỏ học, không có công ăn việc làm, việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhà trường và trong xã hội chưa được sâu rộng, nhận thức pháp luật còn hạn chế, thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng sống,… vì giải pháp để ngăn ngừa, phòng chống tội phạm đối với người chưa thành niên không phải bằng tăng hình phạt, giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà chính là sự quản lý giáo dục và các chính sách dành cho người chưa thành niên. Mục đích của hình phạt và việc áp dụng hình phạt không phải chỉ là để trừng phạt, mà còn nhằm hỗ trợ, giáo dục đối với người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng. Việc xét xử đối với bị cáo là người chưa thành niên phải thể hiện được nguyên tắc nhân đạo và chỉ đặt ra trong những trường hợp thật cần thiết, nếu có phải áp dụng hình phạt thì cũng lấy mục đích giáo dục, cải tạo là chủ yếu, không để “hình ảnh” hình phạt tồn tại trong tâm hồn của họ, dễ gây ra sự bất mãn, lòng thù hận. Bởi lẽ dựa trên nhiều yếu tố về tâm sinh lý, thể chất, giai đoạn lứa tuổi này đang “chuyển hóa” từ trẻ em sang giai đoạn người lớn, nên tâm lý bồng bột, nông nổi, cộng với việc thiếu kinh nghiệm sống, nên dễ bị kích động, “bùng nổ”, cám dỗ và sa ngã bởi những đối tượng xấu. Mặt khác, sự hiểu biết về xã hội, pháp luật còn hạn chế, dẫn đến lựa chọn thiếu chính xác, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội. 

Hình minh họa: Phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên, không có vành móng ngựa, bị cáo ngồi bên cạnh người giám hộ và người bào chữa

  Với ý nghĩa khoa học pháp lý nêu trên, tác giả đề xuất không tăng hình phạt và giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội như dự thảo BLHS 2015. Người chưa thành niên phạm tội, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà có biện pháp phù hợp, không chỉ cứ bỏ tù là xong mà cần có các biện pháp xử lý nhân văn hơn. Do đó, đề nghị nên giữ nguyên tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý và các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 12, Điều 69 và Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999.