[Đăng ngày: 21/03/2017]

Phan Gia Ngọc – Thạc sĩ Luật học
Phó Chánh văn phòng HĐND tỉnh

  Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (Luật SHTT năm 2005) và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 - Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 (Sau đây gọi là Luật SHTT). Luật SHTT hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo, bảo hộ thành quả của lao động của tác giả. Các quy định này đã phát huy vai trò của “nó”. Bên cạnh đó, hoạt động thực thi của các cơ quan có thẩm quyền, hoạt động tự bảo vệ quyền của các chủ thể đã có bước tiến bộ đáng kể nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT và xâm phạm quyền SHTT không hề giảm đi mà vẫn có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là nạn sao chép tác phẩm. 

  Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, trong khi đó nhu cầu tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu tri thức khoa học rất lớn, đặc biệt là các sinh viên, học viên đang theo học ở các trường đại học hoặc đang học cao học rất cần nghiên cứu các tác phẩm, giáo trình phục vụ cho mục đích học tập nhưng do khó khăn về mặt kinh tế mà không thể mua được tác phẩm hoặc giáo trình đó thì vấn đề đặt ra là họ có quyền được photocopy tài liệu đó không để đáp ứng một phần nhu cầu nói trên? Bảo vệ quyền của tác giả nhằm khuyến khích sự sáng tạo là chính đáng, phù hợp với luật pháp trong nước và quốc tế nhưng cũng cần phải đan xen, phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng. Trong phạm vi bài viết, tác giả bàn về quyền phô tô tài liệu để phục vụ học tập trong các trường học trong giai đoạn hiện nay.

  I/ Các quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ:

  Trước hết, cần phải khẳng định rằng quyền sở hữu trí tuệ là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật SHTT bao gồm quyền nhân thân (Điều 18) và quyền tài sản (Điều 20):

  1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

  “a)…

  c) Sao chép tác phẩm;

  …”

  Khoản 1 Điều 3 Luật SHTT xác định đối tượng quyền tài sản: “Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá” và Điểm a khoản 1 Điều 14 Luật SHTT đã cụ thể hóa: “Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác” là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

  Như vậy, theo nội dung của điểm c khoản 1 Điều 20 Luật SHTT thì sao chép tác phẩm là quyền tài sản của tác giả. Và “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” theo Điều 115 BLDS 2015. Do đó, tất cả các hành vi của “Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả”( khoản 3 Điều 20 Luật SHTT)

  Để bảo hộ quyền tài sản, thì khoản 6 Điều 28 Luật SHTT đã nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền tài sản: “Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này”. Đó là: (a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; (đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.

  Bản sao tác phẩm được Điều 4 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật SHTT về quyền tác giả và quyền liên quan đã giải thích: “Bản sao tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Bản sao chụp tác phẩm cũng là bản sao tác phẩm”.

  Điều 9 Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật quy định: “Tác giả có các tác phẩm văn học, nghệ thuật được Công ước này bảo hộ, được hưởng độc quyền cho phép sao in các tác phẩm đó dưới bất kỳ phương thức hay hình thức nào”. Đồng thời tại Điều 2 của Công ước đã liệt kê bao gồm: “tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu”.

  Như vậy, có thể thấy: Quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm được cả pháp luật quốc tế và pháp luật của trong nước bảo hộ trong suốt thời hạn bảo hộ tác phẩm. Và tùy theo mức độ thì các hành vi xâm phạm có thể xử lý hành chính, dân sự hoặc hình sự (Điều 199 Luật SHTT). 

  II/ Thực trạng và kiến nghị

  Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, thì việc thực hiện các cam kết về sở hữu trí tuệ là một trong những vấn đề quan trọng. Nếu việc thực thi và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không được đảm bảo thì xem như là rào cản trong tiến trình bước ra “sân chơi” thế giới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền tài sản. Vấn đề đặt ra là, với các quy định của pháp luật nêu trên thì việc “phô tô” tác phẩm của sinh viên, học viên trong các trường đại học (nói chung) mà không được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì bị coi là có hành vi xâm phạm quyền tác giả hay không trong bối cảnh và hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn của đất nước ta. Có thể dễ dàng thấy, hiện nay, con số các sinh viên vừa học, vừa làm cũng phải chắt chiu dành dụm tiền của gia đình và phải làm thêm vất vả lắm, tằn tiện lắm mới tạm đủ trang trải chi phí đèn sách cho khoảng thời gian theo học đại học. Trong khi đó, pháp luật buông lỏng quản lý ở các cơ sở photocopy. “Nó” được mở công khai ở tất cả mọi nơi, và các tài liệu photocopy cũng rất đa dạng, từ tác phẩm, giáo trình, sách tham khảo, tài liệu học tập của tác giả nước ngoài đến tác phẩm trong nước đã photocopy hàng trăm bản để kinh doanh nhưng việc xử lý vi phạm hầu như bỏ ngõ, không xử lý mặc dù pháp luật có quy định các biện pháp chế tài. Trong khi đó, các sinh viên, học viên đang theo học cao học nếu photocopy tài liệu, giáo trình thì rất dễ bị xử lý kỷ luật như đình chỉ học tập, không cho dự thi,… .

  Như đã nêu trên, điểm a, đ khoản 1 Điều 25 của Luật SHTT cho phép 02 trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao là: (i) “Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” và (ii) “Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu” chỉ dành cho giảng viên, chuyên gia và tổ chức để lưu trữ còn đối với các sinh viên đang học đại học hay đang học cao học thì không được phép.

  Nếu nói việc nghiên cứu khoa học hay giảng dạy là nghiên cứu ở cấp độ cao, chuyên nghiệp của các giảng viên, chuyên gia hay giáo sư thì việc nghiên cứu học tập của sinh viên, học viên đang học cao học dưới các hình thức tiểu luận, luận văn hay đề án thì lúc này việc họ photocopy có bị xem là vi phạm pháp luật hay không? Mặc dù phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu của giảng viên, chuyên gia với sinh viên và học viên đang học cao học là khác nhau nhưng đều mục đích hướng tới là tìm kiếm những vấn đề mới để cập nhật, bổ sung tri thức. Chưa nói đến có không ít một bộ phận không nhỏ sinh viên “nhờ” những tài liệu phô tô này mà có không ít các công trình được ứng dụng rộng rãi trong xã hội. Vậy có xem họ sử dụng trái phép quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm hay không khi photocopy tài liệu, giáo trình để nghiên cứu học tập? Luật pháp của các nước có các quy định khác nhau về việc cho phép photocopy một phần của tác phẩm. Tỉ lệ đó là bao nhiêu thì tùy thuộc vào từng nước, chẳng hạn như: Singapore, Úc, là không quá 10% tác phẩm, tại Anh là 20% tác phẩm. 
Chúng ta cần phải xem xét “học tập” theo nghĩa rộng, đó chính là nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi và khám phá những cái mới làm cho cuộc sống của mình và xã hội ngày càng phong phú hơn trong quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức của bản thân. Nếu tiếp cận ở góc độ này thì tác giả cho rằng sinh viên, học viên đang học cao học mà photocopy tài liệu, giáo trình phục vụ cho việc nghiên cứu học tập như đã phân tích trên thì được phép nhưng chỉ được photocopy 01 bản hoặc một phần tác phẩm mà thôi chứ không được photocopy nhiều ấn bản khác nhau. Trong khi chưa sửa đổi, bổ sung Luật SHTT thì thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có hướng dẫn theo hướng mà tác giả đã tiếp cận để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên, học viên được quyền sử dụng hợp pháp quyền tài sản của tác giả một cách chính đáng mà vẫn bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể về quyền của sinh viên, học viên trong việc photocopy tác phẩm mà không thuộc các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo Điều 25 Luật SHTT và Điều 25 Nghị định 100/2006/NĐ-CP.
 
  Tóm lại, để việc bảo hộ quyền tài sản của tác giả được bảo đảm thực thi và “đi vào cuộc sống” mà cụ thể là quy định về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng cần phải được hoàn thiện hơn nữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tiếp cận được sự hoàn thiện, hiện đại của pháp luật, phù hợp với thực tiễn đồng thời cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải hoạt động hiệu quả và công bằng. Vấn đề này cần phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng, nhưng quan trọng hơn hết đó là ý thức tự giác chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ của mỗi chúng ta trong thực tế./.