Nghiên cứu sinh, Võ Quốc Tuấn
Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang
I. TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG.
Thành phố Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa và của khu vực Nam Trung Bộ. Là địa bàn có tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, nhiều khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch mới hình thành nên tranh chấp đất đai gia tăng và phức tạp.
Theo thống kê tình hình giải quyết án năm 2016 (số liệu tính từ 01/10/2015-30/9/2016) và 06 tháng đầu năm 2017 (01/10/2016-31/3/2017), Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý 1860 vụ, việc dân sự, hành chính, trong đó có 268 vụ dân sự, hành chính có liên quan đến tranh chấp đất đai, chiếm tỷ lệ 14,4%. Số liệu thống kê trên cho thấy các vụ án về tranh chấp đất đai chiếm một tỷ lệ đáng kể, tính chất tranh chấp phức tạp, kéo dài, liên quan đến nhiều quan hệ pháp luật, nhiều đương sự ở các địa bàn khác nhau.
Các dạng tranh chấp đất đai có thể chia ra làm hai loại lớn là: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp trong các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất. Phân loại các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất mà Tòa án đã thụ lý giải quyết thì thấy có các loại tranh chấp cụ thể sau đây:
- Tranh chấp quyền sử dụng đất (ai là người có quyền sử dụng đất);
- Tranh chấp về việc đòi đất, cho mượn, cho sử dụng nhờ, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, tranh chấp lối di chung, …;
- Chia tài sản chung có gắn liền với quyền sử dụng đất phát sinh trong tranh chấp thừa kế;
- Tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp hợp đồng thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp hợp đồng thuế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
- Ngoài ra, các tranh chấp khác như: Tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất khi ly hôn; cha mẹ chồng đòi lại đất vợ chồng con trai con dâu, hoặc cha mẹ vợ đòi lại đất vợ chồng con gái con rể khi ly hôn...
II. NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT NHỮNG VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ HÀNH CHÍNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG.
Thực tiễn giải quyết của Tòa án cho thấy tranh chấp đất đai nói chung là loại án có tính chất phức tạp, khó giải quyết, từ việc thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ đến việc áp dụng pháp luật cũng như các thủ tục tố tụng dẫn đến thời gian giải quyết vụ án kéo dài, xét xử ở nhiều cấp, có vụ án xét xử bị hủy phải giải quyết lại từ đầu, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ trong thời gian dài.
1. Những vướng mắc chung:
Các quy định pháp luật còn nhiều bất cập, lỗ hổng dẫn đến tình trạng khó khăn trong tiến trình giải quyết tranh chấp đất đai. Chính sách, pháp luật về đất đai liên tục thay đổi, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn chưa phù hợp.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án từ ngày 1/7/2014 tăng cao khi phải thụ lý và giải quyết cả các tranh chấp đất đai khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Trong bối cảnh nhân lực của Tòa án, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán hiện còn thiếu.
Giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những vấn đề nhạy cảm và hết sức phức tạp. Nếu việc giải quyết không kịp thời, thấu đáo và hợp lý sẽ dễ dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài, thậm chí xảy ra những sự việc đáng tiếc như đã từng xảy ra tại một số địa phương.
2. Vướng mắc thủ tục hòa giải cơ sở:
Thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) là thủ tục bắt buộc trong các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
Nếu sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện ra quan hệ pháp luật tranh chấp đất đai thuộc các loại tranh chấp này mà chưa tiến hành hòa giải theo quy định của Luật đất đai là vụ án chưa đủ điều kiện khởi kiện thì Tòa án đình chỉ vụ án. Thực tiễn có trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án tranh chấp đất đai trong đó quan hệ tranh chấp đất không phải qua hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án lại phát hiện có quan hệ tranh chấp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 nói trên thì giải quyết như thế nào?
Ngoài ra, trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án mới phát hiện ra văn bản hòa giải của UBND cấp xã vi phạm các quy định của Luật đất đai thì bắt buộc UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp phải tiến hành hòa giải lại cho đúng quy định của Luật đất đai.
Ví dụ như một vụ án về chia di sản thừa kế rơi vào các trường hợp trên, nếu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án thì sẽ đảm bảo vụ án được giải quyết nhanh chóng, liên tục nhưng sẽ bị hủy do vi phạm thủ tục tố tụng. Nếu tạm đình chỉ vụ án đề chờ hòa giải tại xã, phường thì dẫn đến vụ án phải kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân.
3. Vướng mắc từ việc cấp GCNQSDĐ, xác nhận quyền sử dụng đất, xác nhận các giao dịch đất đai không đúng về diện tích, đối tượng, thẩm quyền:
Ví dụ những trường hợp cấp GCNQSDĐ là đất rừng trên địa bàn các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Phương, diện tích được ghi trong GCNQSDĐ không phù hợp với diện tích đo thực tế, chồng lấn nhau, không ghi rõ tứ cận, ranh giới thửa đất, số thửa đất khác nhau. Nguyên nhân là do trước đây việc đo đạc cấp GCNQSDĐ bằng thiết bị lạc hậu, địa bàn phức tạp, cán bộ làm việc qua loa...
Cũng có trường hợp người sử dụng đất cố tình kê khai diện tích sai để trốn tránh nghĩa vụ về thuế, lấn chiếm diện tích của các hộ liền kề... Cũng có nhiều trường hợp UBND chỉ căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu có sẵn và chưa đầy đủ để cấp GCNQSDĐ.
Việc cấp GCNQSDĐ cho cá nhân, hộ gia đình trong một số trường hợp còn lẫn lộn, nhiều trường hợp đất của cá nhân hoặc của vợ chồng nhưng lại cấp cho hộ gia đình và ngược lại, có trường hợp còn đồng nhất giữa hộ gia đình và hộ khẩu. Khi gặp các tranh chấp này, Tòa án phải mất rất nhiều thời gian để thu thập chứng cứ xác định thời điểm cấp GCNQSDĐ các thành viên trong hộ gia đình gồm những ai để đưa vào tham gia tố tụng. Việc xác định tư cách tố tụng của các thành viên của hộ gia đình rất khó khăn và kéo dài do tại thời điểm cấp GCNQSDĐ có tên thành viên nhưng sau một thời gian chuyển khẩu đi nơi khác. Có trường hợp người đứng tên chủ hộ trong GCNQSDĐ lại không phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu gia đình, nhiều người đứng tên trong hộ khẩu với mục đích chỉ là để cư trú hợp pháp hoặc cho con đi học. Chưa kể đến trường hợp người có tên trong hộ khẩu sau đó chết và phát sinh thừa kế thì việc giải quyết vụ án càng khó khăn hơn.
Việc xác nhận quyền sử dụng đất, xác nhận các giao dịch về đất, thực trạng nhà ở ở nhiều xã, phường còn tùy tiện dẫn đến phát sinh tranh chấp, xác nhận không đúng thực tế, thẩm quyền. Có trường hợp xác nhận cho nhiều đối tượng. Khi Tòa án đến xác minh thì UBND xác định không nắm rõ do đó là nội dung xác nhận của lãnh đạo nhiệm kỳ trước.
4. Vướng mắc trong việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu liên quan đến đất đai, việc cung cấp chứng cứ, văn bản trả lời của UBND còn chậm:
Nhiều vụ án phải kéo dài, thậm chí không thể giải quyết được do việc lưu trữ hồ sơ không đảm bảo, bị thất thoát do chia tách các đơn vị hành chính (đển hình là Vĩnh Hải, Vĩnh Hòa), chuyển trụ sở, thay đổi nhân sự không bàn giao đầy đủ. Nhiều địa phương cũng như bộ phận lưu trữ của các cơ quan quản lý đất đai còn thiếu trách nhiệm, thường né tránh trong việc cung cấp chứng cứ bị thất lạc, không rõ ràng. Nếu thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác sẽ gây khó khăn rất lớn cho việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án.
Ví dụ: Vụ án “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn Đinh Thị A và bị đơn Đinh Thị Thúy được Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý từ ngày 28/02/2011 nhưng đến nay vẫn chưa thể giải quyết lý do Tòa án phải xác minh nguồn gốc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 3, tổ Sơn Phước 2, phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang trước đây do Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa và nay là Đại học Nha Trang quản lý sử dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần có công văn yêu cầu UBND tỉnh Khánh Hòa và các cơ quan chức năng xác định nguồn gốc, cung cấp tài liệu có liên quan nhưng không có kết quả. Cuối năm 2016 Tòa án nhận được công văn phúc đáp của Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Nha Trang với nội dung: “Sau khi kiểm tra hồ sơ lưu trữ, không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ đăng ký kê khai nguồn gốc đất tại các thửa đất trên”.
Trong việc giải quyết tranh chấp về đất đai thì việc hỏi UBND về nguồn gốc, việc cấp đất cho các đương sự thì mới đảm bảo có đường lối xét xử đúng đắn. Theo quy định tại khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu...”. Tuy nhiên, trên thực tế việc trả lời của UBND còn chậm, có trường hợp kéo dài tới 06 tháng. Việc trả lời của UBND chưa sát với yêu cầu của Tòa án, ý kiến trả lời còn rất chung chung, thường yêu cầu Tòa án chủ động liên hệ các cơ quan chuyên môn để được giải quyết. Khi Tòa án liên hệ các cơ quan này thì không nhận được công văn trả lời. Việc trên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến thời hạn xét xử, quyền và lợi ích của đương sự.
Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đang thụ lý vụ án “Đòi quyền sử dụng đất” thụ lý số 186/2016/TBTL-DS ngày 04/4/2016, để đảm bảo giải quyết vụ án đúng quy định, Tòa án đã có công văn đề nghị UBND tỉnh Khánh Hòa đề nghị xác định Quyết định số 2413/QĐ-UB ngày 11/7/2001 về việc giao đất cho hộ ông Kiều Tố và bà Lê Thị Biện tại lô số 30, địa chỉ 06 Dương Văn Nga, Vĩnh Hải, Nha Trang có còn hiệu lực hay không? Có Quyết định nào thay thế không?
Tòa án đã có công văn yêu cầu UBND tỉnh Khánh Hòa cung cấp thông tin vào tháng 9/2016. Tuy nhiên, UBND tỉnh Khánh Hòa không có văn bản trả lời trực tiếp mà yêu cầu Tòa án liên hệ với Sở Tài nguyên và môi trường, UBND thành phố Nha Trang để được cung cấp tài liệu có liên quan.
Ngày 28/11/2016 Phòng tài nguyên môi trường thành phố Nha Trang trả lời “Hiện không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất nêu trên”. Tòa án liên hệ Sở Tài nguyên và môi trường và được hướng dẫn liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai Khánh Hòa nhưng đến nay vẫn không có kết quả.
5. Vướng mắc trong việc đo vẽ, định giá đất đai:
Việc đo đạc diện tích đất tranh chấp và định giá đất tranh chấp có nhiều kết quả khác nhau. Có trường hợp một bên đương sự yêu cầu định giá tài sản, bên đương sự khác lại yêu cầu thẩm định giá tài sản, khi hai kết quả khác nhau thì Tòa sẽ căn cứ vào kết quả nào để giải quyết vụ án? Ngoài ra, hiện nay có nhiều cơ quan có thẩm quyền đo đạc đất đai, khi có kết quả khác nhau thì căn cứ kết quả đo đạc của cơ quan nào để làm cơ sở giải quyết vụ án? Các vấn đề này chưa được hướng dẫn cụ thể.
Trong thực tế có trường hợp Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ và đo vẽ tài sản đang tranh chấp nhưng khi có bản vẽ, đương sự lại cho rằng việc đo vẽ không chính xác và yêu cầu đo vẽ lại nhưng không chịu nộp chi phí đo vẽ lại vì cho rằng việc đo vẽ không đúng. Ví dụ như vụ án tranh chấp đất đai tại 2/5 đường Phật Học, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang. Sau khi Tòa án có công văn hỏi cơ quan đo vẽ thì Trung tâm phát triển quỹ đất Khánh Hòa có công văn với nội dung trả lời: “Trung tâm phát triển quỹ đất Khánh Hòa đã thực hiện Hợp đồng đúng trách nhiệm, đúng kỹ thuật và chuyên môn. Trong trường hợp nếu ranh giới mà các bên đương sự chỉ dẫn tại thực địa khác với ranh giới đã chỉ dẫn để thực hiện trích đo địa chính ngày 19/6/2015, Trung tâm phát triển quỹ đất Khánh Hòa vẫn thu phí theo quy định như thực hiện một hợp đồng mới”. Việc trên dẫn đến vụ án phải kéo dài.
6. Vướng mắc trong việc hủy quyết định cá biệt của UBND cấp huyện trong vụ án dân sự:
Nhiều vụ án tranh chấp đất đai đương sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của UBND cấp huyện mà cụ thể là GCNQSDĐ.
Vướng mắc ở đây là đối với những vụ án Tòa án cấp huyện đã thụ lý trước ngày 01/7/2016 chưa phát sinh yêu cầu hủy quyết định cá biệt của UBND cấp huyện nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới phát sinh yêu cầu hủy quyết định cá biệt thì Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết. Vướng mắc này đã được Tòa án nhân dân tối cao giải đáp tại văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017, cụ thể: Nếu Tòa án cấp huyện đã thụ lý thì tiếp tục giải quyết mà không chuyển cho Tòa án cấp tỉnh. Tuy nhiên, khó khăn ở đây là căn cứ Luật tố tụng hành chính 2015 thì không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nên Thẩm phán có tâm lý chuyển vụ án để Tòa án cấp tỉnh xem xét, nếu Tòa án cấp tỉnh trả hồ sơ về Tòa án cấp huyện mới tiếp tục giải quyết vụ án.
Ngoài ra, liên quan đến việc hủy quyết định cá biệt trong khi giải quyết vụ án dân sự thì người đại diện theo ủy quyền của cơ quan, tổ chức có phải bắt buộc là cấp phó theo quy định tại khoản 3, Điều 60 Luật tố tụng hành chính hay không? Tại văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 Tòa án nhân dân tối cao cũng cho rằng chỉ áp dụng đối với vụ án hành chính. Tuy nhiên, thực tế xét xử các vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang cho thấy, UBND thường ủy quyền cho những người không đủ năng lực, chuyên môn và không quyết định được các vấn đề quan trọng nên trong các phiên đối thoại và phiên tòa việc đối thoại, hòa giải thường không có kết quả.
7. Vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án hành chính liên quan đến đất đai:
Thứ nhất, trong vụ án khởi kiện yêu cầu huỷ quyết định hành chính, người khởi kiện yêu cầu huỷ các GCNQSDĐ, trong đó từ GCNQSDĐ được cấp ban đầu, trên cơ sở hồ sơ chuyển nhượng, thừa kế, cấp đổi, cơ quan có thẩm quyền đã làm thủ tục cấp mới, thay thế GCNQSDĐ cấp trước đó. Như vậy, việc người khởi kiện yêu cầu huỷ tất cả các GCNQSDĐ đã được thay thể, hủy bỏ là đúng hay chỉ huỷ giấy chứng nhận cấp sau cùng khi trên thực tế không còn các giấy chứng nhận cấp trước nữa? Lúc này, vấn đề cần xác định là GCNQSDĐ nào là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính? Có quan điểm cho rằng: Mặc dù đã được cấp lại hoặc cấp đổi nhưng trên thực tế các GCNQSDĐ này chưa được thu hồi, huỷ bỏ và vẫn đang còn tồn tại và lưu hành (đưa thế chấp tại Ngân hàng) nên vẫn đang là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên khi yêu cầu huỷ GCNQSDĐ thì phải huỷ tất cả các GCNQSDĐ cấp trước và cấp sau để đảm bảo tính triệt để. Quan điểm khác lại cho rằng: Mặc dù trên thực tế các GCNQSDĐ vẫn còn tồn tại nhưng về mặt quản lý hành chính nhà nước thì các Giấy chứng nhận đó đã bị thu hồi, huỷ bỏ, thay thế; trong quá trình làm thủ tục cấp lại hoặc cấp đổi thì đều căn cứ vào GCNQSDĐ đã cấp trước đó để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ sau, thậm chí có GCNQSDĐ đã có quyết định thu hồi nhưng do không thực hiện việc thu hồi chứ không phải chưa thu hồi nên vẫn đang còn tồn tại. Khi người khởi kiện yêu cầu huỷ bỏ tất cả các GCNQSDĐ thì đã được thay thế bằng GCNQSDĐ sau nên không còn đối tượng khởi kiện nữa.
Thứ hai, về thủ tục uỷ quyền tham gia tố tụng: Theo Luật tố tụng hành chính 2015, trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được uỷ quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người bị kiện trong các vụ án hành chính đều là UBND các cấp, vì vậy đại diện theo pháp luật là Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh. Trên thực tế giải quyết các vụ án tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, đại diện theo pháp luật đều có văn bản uỷ quyền cho cấp Phó chủ tịch UBND thành phố Nha Trang tham gia tố tụng nhưng các cấp phó lại có văn bản xin được xét xử vắng mặt lý lý do công việc, có trường hợp văn bản xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Việc xin xét xử vắng mặt không trái quy định pháp luật nhưng đã gây khó khăn cho công tác giải quyết án (không làm rõ được các nội dung liên quan đến việc khởi kiện, không đối thoại để thoả thuận được và trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện cũng phải được sự đồng ý của người bị kiện…), làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và gây tốn kém thời gian, công sức và chi phí của việc giải quyết…
II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI.
Để khắc phục được những khó khăn vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính về đất đai, cần tập trung vào 04 nhóm giải pháp chính đó là:
1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật:
Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai: Luật Đất đai năm 2013 mới vừa có hiệu lực thi hành, dó đó, cần hướng dẫn thực hiện một cách cụ thể, tránh áp dụng tùy tiện vấn đề thu hồi đất theo hướng khẳng định rõ và rất hạn chế các trường hợp được coi là “thật sự cần thiết” mới được thu hồi, theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, cần làm rõ hơn vai trò của Hội đồng nhân dân như là tiếng nói của cử tri trong việc kiểm soát những quyết định thu hồi đất của UBND cùng cấp. Về xác định giá đất, cần quy định thành phần bắt buộc trong hội đồng thẩm định giá đất, không chỉ có UBND, đại diện ban, ngành liên quan, tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất độc lập, mà còn cần tới nhiều thành viên là các chuyên gia cao cấp về định giá đất như các chuyên gia định giá từ các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, khu vực doanh nghiệp định giá, hiệp hội định giá. Với thành phần như vậy mới đảm bảo việc định giá đất có cơ sở khách quan.
Hai là, ban hành Luật Ban hành quyết định hành chính và hướng dẫn xác định rõ các hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai: Để có cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc ban hành các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai và cũng để kiểm soát chặt chẽ việc ban hành quyết định hành chính, cần phải có Luật Ban hành quyết định hành chính. Luật Ban hành quyết định hành chính được ban hành không chỉ thuận lợi cho phía chủ thể quản lý, mà còn tạo thuận lợi cho người dân, vừa bảo đảm tính dân chủ, minh bạch, vừa bảo đảm tính quyền uy, quyền lực phục tùng, được xem là bản chất của các quan hệ hành chính.
2. Nhóm giải pháp về tăng cường hòa giải các tranh chấp đất đai:
Hòa giải là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, hiệu quả giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một phương pháp thống nhất để tháo gỡ mâu thuẫn, bắt đồng trong quan hệ pháp luật đất đai. Việc giải quyết tranh chấp góp phần đảm bảo pháp luật đất đai được tuân thủ, phát huy vai trò trong đời sống xã hội.
Khi các bên có tranh chấp về đất đai, nhiều trường hợp các mâu thuẫn đất đai đã được giải quyết nhờ việc hoà giải tại địa phương. Bằng cách thức để các bên có mâu thuẫn gặp gỡ và nhận được sự giúp đỡ của các hoà giải viên, là những người có hiểu biết về pháp luật hay có các thông tin liên quan đến các phần đất có tranh chấp, các bên trong vụ tranh chấp có thể sẽ hiểu hơn về quyền lợi của mình và sẽ cùng dàn xếp hay thương lượng để giải quyết vụ việc. Chính vì lý do đó mà cần phải tăng cường hòa giải các tranh chấp về đất đai tại UBND cấp xã. Nâng cao trình độ hòa giải, trình độ pháp luật về đất đai cho các cán bộ hòa giải tại các xã, phường trên địa bàn thành phố Nha Trang. Tuyên truyền rộng rãi cho người dân biết về chính sách đất đai của địa phương, vận động nhân dân giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại cơ sở. Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm của cán bộ tham gia công tác hòa giải, không hòa giải qua loa, lấy có mà không quan tâm đến chất lượng hòa giải. Tránh tình trạng hòa giải thiếu thành phần hoặc lập biên bản hòa giải không đúng trình tự thủ tục theo quy định.
Đối với việc hòa giải tại Tòa án, để đảm bảo hiệu quả và nâng cao chất lượng công tác hòa giải, nên có những quy định riêng phù hợp với tính đặc thù của mỗi loại tranh chấp, nhất là tranh chấp đất đai. Bên cạnh đó, lãnh đạo đơn vị cần thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng hòa giải cho các Thẩm phán, vì người làm công tác xét xử không chỉ cần nắm vững pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ thông thạo mà còn phải nắm được tâm lý của đương sự, phản ứng nhanh nhạy thì mới có thể tạo dựng được lòng tin của các đương sự trong quá trình hòa giải.
3. Nhóm giải pháp về tăng cường phối hợp của UBND các cấp với Tòa án:
Đây là việc làm rất thiết thực đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án chính xác và nhanh chóng. Cần có quy chế phối hợp trong việc giải quyết vụ việc dân sự giữa Tòa án với UBND và các cơ quan có liên quan... Trong đó quy định cụ thể trình tự, thời gian, trách nhiệm của các cơ quan trong việc cung cấp chứng cứ.
Nâng cao trách nhiệm của UBND các cấp trong việc phối hợp với Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai. UBND hoặc cơ quan có liên quan trực tiếp phải có trách nhiệm trả lời cũng như cung cấp hồ sơ tài liệu cho Tòa án, không hướng dẫn Tòa án liên hệ với các cơ quan trực thuộc trong khi trách nhiệm là của UBND.
4. Nhóm giải pháp nâng cao trình độ, năng lực cán bộ:
Cần tăng số lượng Thẩm phán cho phù hợp với khối lượng án phải giải quyết hàng năm. Không chỉ tăng về số lượng mà còn phải tăng cường về tư tưởng chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ. Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, các hội thảo chuyên đề về tranh chấp đất đai để các Thẩm phán cùng nhau thảo luận và rút kinh nghiệm. Đối với các vụ án phức tạp cần chịu khó trao dồi kiến thức, trao đổi nghiệp vụ, nghiên cứu kỹ các quy định có liên quan, cố gắng hết mình trong việc giải quyết án.
Lãnh đạo đơn vị cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra các vụ án liên quan đến đất đai kéo dài, chưa giải quyết được, xác định nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc của từng vụ án để họp bàn đưa ra phương án giải quyết. Tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với những vụ án liên quan đến đất đai bị hủy, quá hạn hoặc tạm đình chỉ không đúng./.