Tiến sĩ Luật học Lê Xuân Thân
I. Kỹ năng tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND
1. Quy định của pháp luật về trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND
Theo Hiến pháp và Luật tổ chức chính quyền địa phương, đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) do cử tri bầu ra, đồng thời cử tri có quyền bãi miễn đại biểu; hoạt động tiếp xúc cử tri (TXCT) xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, là trách nhiệm hiến định của đại biểu.
Trách nhiệm TXCT của đại biểu HĐND được quy định cụ thể tại điều 94 Luật Tổ chức chính quyền địa phương:
“Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND:
1. Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.
2. Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó”.
Như vậy, tiếp xúc cử tri là hoạt động giao tiếp hai chiều giữa đại biểu và cử tri, diễn ra trong môi trường có tính tương tác cao giữa người nói và người nghe, trong đó cả đại biểu và cử tri đều có cả hai vai trò, vừa là người nói, vừa là người nghe.
Kỹ năng tiếp xúc cử tri thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của đại biểu trên nhiều phương diện: thái độ, phong cách, trình độ, năng lực ứng xử, năng lực sử dụng ngôn ngữ, tinh thần trách nhiệm… Cử tri sẽ đánh giá về đại biểu từ những chi tiết nhỏ nhất như trang phục, trang điểm, cách đi đứng, cách trình bày vấn đề cho đến những vấn đề lớn như trình độ, năng lực đại diện. Do đó, sẽ là sai lầm nếu quan niệm hoạt động tiếp xúc cử tri là hoạt động "đến hẹn lại lên", chỉ cần thực hiện theo kế hoạch, đại biểu đến chỉ cần đọc báo cáo đã chuẩn bị sẵn và cầu thị ngồi nghe, ghi chép ý kiến phát biểu của cử tri.
Tính chất đặc biệt của hoạt động tiếp xúc cử tri thể hiện ở chỗ đây là hoạt động giao tiếp giữa cử tri (người gửi gắm sự tín nhiệm) với đại biểu (người được tín nhiệm). Do đó, người đại biểu phải có kỹ năng để tạo ra môi trường giao tiếp cởi mở, gần gũi trên cơ sở ý thức gắn bó, chia sẻ. Đây là vấn đề cần hết sức lưu ý để đạt hiệu quả trong hoạt động TXCT, bởi trên thực tế hiện nay tình trạng "hành chính hóa" hoạt động TXCT diễn ra khá phổ biến.
2. Các hình thức tiếp xúc cử tri
Pháp luật hiện nay quy định đại biểu có thể tiếp xúc cử tri bằng nhiều hình thức: TXCT thông qua các hội nghị TXCT do Ủy ban MTTQ chủ trì tổ chức; tiếp xúc với cử tri nơi công tác, tiếp xúc với cử tri nơi cư trú…Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc TXCT của đại biểu chủ yếu được thực hiện thông qua Hội nghị TXCT do Ủy ban MTTQ chủ trì tổ chức trước và sau kỳ họp HĐND.
Hình thức TXCT này cần nhưng chưa đủ. Gần đây, nhiều nơi đã triển khai thực hiện các cuộc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, theo giới, theo lĩnh vực... xuất phát từ những vấn đề đang được Nhân dân quan tâm, những vấn đề địa phương đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc, những nội dung cần bàn sâu để có Nghị quyết chuyên đề tại kỳ họp (như những vấn đề về phân cấp ngân sách; cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ngoài nhà nước; công tác cải cách tư pháp; công tác xã hội hoá giáo dục...). Hình thức TXCT này mang tính chuyên sâu hơn và có hiệu quả trong việc xây dựng chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn.
Để hoạt động TXCT đạt hiệu quả, đại biểu cần phải sử dụng nhiều hình thức TXCT, đặc biệt là phải tích cực, chủ động TXCT. Thay vì ngồi chờ cử tri tới bày tỏ ý kiến của mình, việc chủ động tiếp xúc cử tri tạo điều kiện cho đại biểu chủ động lấy ý kiến đóng góp của người dân nói chung hay của các nhóm cử tri cụ thể chịu tác động của một vấn đề hay một dự án luật.
Có nhiều phương pháp để chủ động tiếp xúc cử tri:
- Thăm hỏi tại nhà;
- Gặp gỡ định kỳ với các nhóm trong xã hội;
- Tham vấn riêng (Các cuộc tiếp xúc với các cá nhân hoặc các nhóm chịu tác động trực tiếp của một quyết định);
- Các cuộc tiếp xúc cá nhân (Các cuộc tiếp xúc để thu thập thông tin và các bình luận, thường là từ các cơ quan hữu quan, hoặc các chuyên gia khác để có thể hiểu vấn đề rõ hơn);
- Tổ chức tiếp xúc các nhóm cử tri nhỏ tại địa điểm nơi họ sinh sống;
- Các cuộc tiếp xúc với cử tri ngay tại nơi họ làm việc.
3. Các bước chuẩn bị cho buổi TXCT
Sự chuẩn bị tốt là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho hiệu quả của hoạt động TXCT, do đó, đại biểu cần đầu tư thời gian và công sức để có sự chuẩn bị tốt trước khi diễn ra hoạt động tiếp xúc cử tri với các gợi ý sau:
- Nắm vững tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và của đơn vị bầu cử;
- Tìm hiểu, thu thập thông tin đa chiều về những vấn đề bức xúc, nổi cộm tại địa phương, những vấn đề mà đa số cử tri quan tâm.. Nắm vững những nội dung cử tri đã kiến nghị ở các kỳ họp trước để trả lời cho cử tri đúng trọng tâm, trọng điểm;
- Nắm vững kế hoạch tiếp xúc cử tri về thời gian, địa điểm, đối tượng tiếp xúc để có sự chuẩn bị phù hợp về thông tin, về trang phục; liên hệ chặt chẽ với đại diện Ban Thường trực UBMTTQ - cơ quan chủ trì Hội nghị tiếp xúc cử tri và chính quyền, các đoàn thể tại địa bàn TXCT để có những thông tin hữu ích phục vụ cho TXCT;
- Trên cơ sở các thông tin thu thập được về những vấn đề nổi cộm, bức xúc tại địa bàn TXCT, dự liệu những tình huống phức tạp có thể phát sinh và dự kiến mời đại diện các cơ quan hữu quan có thẩm quyền giải quyết đến tham dự tiếp xúc cử tri để hỗ trợ giải tỏa bức xúc của cử tri;
* Sự khác nhau giữa 2 lần tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp:
Trước kỳ họp, đại biểu báo cáo với cử tri về tình hình kinh tế- xã hội của địa phương, thông tin về nội dung, chương trình kỳ họp. Sau kỳ họp, đại biểu phải báo cáo tóm tắt kết quả kỳ họp, thông báo và giải thích nghị quyết đã được ban hành tại kỳ họp. Thông thường, Văn phòng chuẩn bị cho đại biểu những nội dung này và gửi đến đại biểu. Đại biểu phải tự chuẩn bị để báo cáo ngắn gọn, mất ít thời gian - chuẩn bị thông tin, đề cương, thông điệp chính.
Tiếp xúc theo chuyên đề thì đối tượng cử tri là đồng nhất hơn (thường là cùng công tác ở một lĩnh vực hoặc cùng làm ở một ngành nghề nhất định) và nhu cầu của buổi tiếp xúc là để đại biểu tìm hiểu thông tin về một vấn đề cụ thể (VD: Tiếp xúc với đại biểu là công nhân ở khu công nghiệp nhằm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri về chính sách đối với người lao động).
- Xây dựng đề cương để báo cáo trước cử tri: sau khi xác định được những thông tin cần thiết cho cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu phải xây dựng đề cương để đưa thông tin đến cử tri. Việc chuẩn bị đề cương để đại biểu nói trúng, đúng vấn đề cử tri cần nghe, tránh nói tràn lan, chung chung và kéo dài thời gian.
- Chuẩn bị các yếu tố cá nhân: trang phục, phương tiện đi lại, sổ sách ghi chép,..
4. Một số kỹ năng cần có khi TXCT
a. Kỹ năng trình bày nội dung : Đây là nội dung chính khi đại biểu TXCT
- Đại biểu nên trình bày tóm tắt, lướt nhanh những nội dung, chọn một vài nội dung thiết thực có liên quan đến địa phương, những vấn đề cử tri quan tâm để phổ biến sâu, giải thích cho cử tri hiểu như là các chế độ, chính sách có liên quan đến sản xuất nông nghiệp, về bảo hiểm y tế, giáo dục…
- Đại biểu cần chuẩn bị sâu những nội dung thiết thực với đối tượng cử tri, cách trình bày cũng phải phù hợp với đối tượng TXCT. Trình bày ngắn gọn, ngôn ngữ sử dụng dễ hiểu, thái độ nghiêm túc, tôn trọng cử tri.
b. Kỹ năng tiếp thu, nghe cử tri nói :
Đại biểu cần xây dựng kỹ năng nghe và ghi chép, tổng hợp ý kiến của cử tri để theo dõi, phân loại, xử lý. Nghe để hiểu ý của cử tri, nhất là cử tri người đồng bào dân tộc thiểu số không thông thạo tiếng phổ thông, cách diễn đạt không đầy đủ…cho nên cần phải có kỹ năng nghe như thế nào để hiểu ý muốn đề đạt của cử tri. Đại biểu nên lắng nghe chăm chú, biểu cảm bằng ánh mắt, gật đầu, cười mỉm để khích lệ cử tri trình bày vấn đề một cách thẳng thắn, chân thành nhưng đúng mực. Đại biểu có thể khuyến khích, gợi mở, động viên cử tri bày tỏ ý kiến bằng các kỹ thuật đặt câu hỏi:
+ Câu hỏi đóng: để định hướng cử tri đưa câu trả lời ngắn gọn, cụ thể, chi tiết: Ở đâu? Khi nào? Vấn đề gì?...
+ Câu hỏi mở: Gợi ý để cử tri chia sẻ, cung cấp thông tin, bày tỏ quan điểm hoặc giải thích rõ hơn vấn đề: "Đề nghị cho biết rõ hơn về….", "Xin hãy mô tả về…", "Vụ việc đã diễn ra như thế nào?"… => cử tri cảm thấy được tôn trọng, động viên.
5. Kỹ năng phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri
Trong các cuộc TXCT, thông thường cử tri nêu 02 dạng ý kiến:
- Ý kiến đóng góp cho chương trình nghị sự của kỳ họp – những ý kiến này không nhiều;
- Nêu ý kiến, kiến nghị và nguyện vọng liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt thường nhật của người dân.
Đại biểu cần phân loại nhanh ý kiến nào thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã, cấp huyện thì đề nghị đại diện chính quyền trả lời trực tiếp; những ý kiến nào đại biểu hiểu sâu có thể trao đổi ngay với cử tri; những ý kiến thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh hoặc TW thì đại biểu tiếp thu để chuyển đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Thông thường thì các ý kiến, kiến nghị của cử tri phần lớn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã, cấp huyện; chỉ có số ít ý kiến thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, TW. Đại biểu và Tổ đại biểu sau khi tổng hợp chung, phân loại ý kiến gửi đến Thường trực HĐND tổng hợp và chuyển đến UBND xem xét, giải quyết. Sau khi có ý kiến trả lời của UBND hoặc các cơ quan liên quan khác, Tổ đại biểu và đại biểu cần theo dõi, tổng hợp kịp thời và gửi ý kiến phản hồi cho cử tri. Nếu làm được như vậy ý kiến của cử tri sẽ được xem xét và trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản.
6. Kỹ năng trao đổi với cử tri tại buổi TXCT
- Đại biểu trao đổi với cử tri xung quanh những nội dung cử tri kiến nghị, tiếp thu những ý kiến chính đáng, phù hợp, đồng thời giải thích cho cử tri những chủ trương, những khó khăn, những điều kiện thực tế của địa phương trong việc đáp ứng nguyện vọng của cử tri.
- Đại biểu cần có chính kiến, thái độ rõ ràng nhưng cần khéo léo xử lý xung đột phát sinh giữa các cử tri hoặc giữa cử tri với đại diện UBND, đại diện các Sở, ngành tham gia Hội nghị TXCT. Trong thực tế TXCT, có những trường hợp cử tri không nêu ý kiến mà trực tiếp gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo (KN,TC) đến đại biểu HĐND. Trong tình huống này, thời gian TXCT không nhiều nên đại biểu không thể giải quyết đơn KN,TC ngay tại buổi TXCT mà cần thiết phải có trách nhiệm giải thích cho cử tri hiểu, tạo sự đồng thuận. Sau đó bố trí thời gian hợp lý tiếp công dân để lắng nghe những kiến nghị, bức xúc của họ để giảm tải những vấn đề “nóng” về KN, TC tại điểm tiếp xúc cử tri.
II. Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri
Điều 74 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xem xét báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri. Theo đó, UBND trình bày báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị cử tri, Ban của HĐND thẩm tra, Thường trực HĐND cho ý kiến và chỉ đạo Văn phòng giúp việc chuẩn bị dự thảo báo cáo của Thường trực HĐND về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và dự thảo nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri.
Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri là cả một quá trình, khởi đầu từ giai đoạn đại biểu HĐND đi tiếp xúc cử tri. Để việc giám sát trúng và đúng, trước khi tiến hành giám sát, đại biểu cần thống kê, đối chiếu các kiến nghị của cử tri với các giải trình ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền tại các kỳ họp, để từ đó lập danh mục về kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri, theo các tiêu chí:
+ Số kiến nghị đã được tiếp thu và giải quyết;
+ Số kiến nghị đang trong quá trình xem xét giải quyết;
+ Số kiến nghị tiếp thu, ghi nhận để nghiên cứu giải quyết trong quá trình ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật;
+ Số kiến nghị chưa có cơ sở, điều kiện để giải quyết, giải trình, cung cấp thông tin lại với cử tri.
Từ kết quả phân loại kiến nghị cử tri như trên, vấn đề mà đại biểu cần quan tâm khi giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri là những kiến nghị nhiều lần mà việc giải quyết chưa đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của cử tri, trong đó cần phải xác định rõ:
+ Nội dung kiến nghị về những vấn đề gì, đã giải quyết ra sao;
+ Nguyên nhân vì sao cử tri không đồng tình;
+ Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết;
+ Kiến nghị các giải pháp giải quyết.
Một trong những nội dung cử tri rất quan tâm tại các buổi tiếp xúc cử tri là kết quả giải quyết các kiến nghị tại các kỳ họp trước đó. Nếu đại biểu không có cơ sở thông tin chính thống, trả lời cho cử tri một cách thỏa đáng thì phải một lần nữa “khất nợ” với cử tri. Có những ý kiến, kiến nghị cử tri hỏi đi, hỏi lại rất nhiều lần nhưng kết quả giải quyết chưa thỏa đáng làm cho cử tri ít mặn mà với các buổi TXCT. Chính điều này làm cho khoảng cách cử tri và người đại diện ngày càng xa hơn. Vì vậy, ngoài vận dụng đúng quy định của pháp luật, đại biểu phải tâm huyết, trăn trở với nỗi bức xúc của cử tri để tìm phương cách buộc cơ quan liên quan giải quyết, trả lời trong thời hạn đã hứa.
* Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri
- Khoản 2 Điều 90 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định: “Cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri và báo cáo với HĐND kết quả giải quyết”. Quy định này được hiểu không chỉ có UBND mà các sở, ban, ngành, phòng, ban trực thuộc cũng như các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội… cũng có trách nhiệm giải quyết kiến nghị của cử tri và báo cáo với HĐND về kết quả giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 74 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND thì chỉ có UBND trình bày báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri trước phiên họp của Thường trực HĐND. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ để bảo đảm sự thống nhất về tổ chức thực hiện quy định của 2 luật này.
Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND quy định: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. UBND là cơ quan quản lý nhà nước, các ngành là cơ quan quản lý chuyên ngành mà kiến nghị của cử tri là bao gồm tất cả các vấn đề thuộc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, vì vậy UBND không phải là cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm giải quyết tất cả các kiến nghị của cử tri về mọi lĩnh vực. Pháp luật quy định Ban của HĐND có trách nhiệm thẩm tra báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri theo lĩnh vực phụ trách, vì vậy, nếu việc giải quyết thuộc các ngành thì việc báo cáo kết quả giải quyết cũng nên giao cho các ngành. Như vậy thì việc thẩm tra của các Ban sẽ rất sâu và thuận lợi; đây cũng là cơ sở để phiên họp giám sát của Thường trực HĐND có chất lượng và hiệu quả.
Khoản 3 Điều 90 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định trong trường hợp cần thiết, HĐND thảo luận và ra nghị quyết về việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri. Vì vậy Thường trực HĐND cần chủ động xem xét trường hợp nào là cần thiết thì mới chỉ đạo việc dự thảo nghị quyết trình HĐND xem xét tại kỳ họp; hoặc là, qua thảo luận báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, báo cáo giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, nếu như nhiều đại biểu HĐND kiến nghị, Ban của HĐND kiến nghị thì khi ấy mới nên ban hành nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri chứ không nên kỳ họp nào cũng ban hành nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri.
Tóm lại:
Tiếp xúc cử tri là một hoạt động quan trọng trong các hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân. Qua hoạt động tiếp xúc với cử tri, đại biểu mới nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, từ đó thực hiện được quyền đại diện cho cử tri, đồng thời tạo mối liên hệ thường xuyên, mật thiết giữa đại biểu và cử tri. Không có cử tri- không có đại biểu. Không có đại biểu- không có người đại diện cho cử tri.
Hoạt động tiếp xúc cử tri là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, do vậy người đại biểu HĐND cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý và nêu cao trách nhiệm chính trị; đồng thời cũng cần phải rèn luyện kỹ năng, phương pháp tiếp xúc với cử tri, nhằm làm hài lòng cử tri và để thu thập được nhiều thông tin từ cử tri.
___________________________________