Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) có hiệu lực từ 01/01/2017 thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005), BLDS 2015 có nhiều thay đổi đáng chú ý về lãi suất cho vay, cụ thể:
1. Trường hợp có thỏa thuận về lãi suất
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015, mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản là không quá 20%/năm (tương đương 1,7%/tháng) của khoản tiền vay. Nếu thỏa thuận vượt quá mức lãi suất giới hạn này thì mức lãi suất vượt quá bị xem là vô hiệu. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất giới hạn trên.
Ví dụ: các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 30%/năm thì pháp luật chỉ chấp nhận mức lãi suất 20%/năm, mức 10% vượt quá sẽ bị xem là vô hiệu.
Như vậy, khi so sánh với BLDS 2005 (lãi suất thỏa thuận tối đa là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng NHNN ban hành), có thể thấy quy định về lãi suất cho vay của BLDS 2015 đã bỏ tham chiếu lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước và trần lãi suất cho vay được nới thêm tới 6,5% (từ 13,5% lên 20%/năm). Khác hoàn toàn so với dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi trước đó là vẫn giữ nguyên lãi suất cơ bản, nhưng nâng tỷ lệ 150% lãi suất cơ bản lên 200%.
Việc bỏ tham chiếu lãi suất cơ bản được đánh giá sự đổi mới về mặt tư duy trong việc điều chỉnh lãi suất áp dụng đối với các quan hệ dân sự. Trên thực tế, lãi suất cơ bản đã trở nên mờ nhạt đi rất nhiều kể từ khi các tổ chức tín dụng (TCTD) được áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận (tháng 6/2002). Bên cạnh đó, mặc dù diễn biến về lãi suất của thị trường đã thay đổi mạnh mẽ, nhưng Ngân hàng Nhà nước không còn công bố lãi suất cơ bản nào khác, ngoài mức 9%/năm từ năm 2010 (theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, hiện nay quyết định này vẫn chưa bị thay thế, bãi bỏ).
Như vậy, từ ngày 01/01/2017, đối với các giao dịch cho vay tài sản, nếu các bên có thỏa thuận về mức lãi suất cho vay thì mức này không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.
2. Trường hợp có thỏa thuận về trả lãi nhưng xác định không rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất
Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 đã chốt cứng mức lãi suất trong trường hợp này là 10%/năm của khoản tiền vay, tương đương 0,83%/tháng.
Khác với quy định của BLDS 2005 trước đây, áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ (từ năm 2010 là 0,75%/tháng).
Như vậy, từ ngày 01/01/2017, đối với các giao dịch cho vay tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận về lãi suất cho vay và có tranh chấp thì áp dụng mức lãi suất 10%/năm của khoản tiền vay.
3. Trường hợp cho vay không thỏa thuận về việc trả lãi
Khoản 4 Điều 466 BLDS 2015 quy định:
“Trường hợp cho vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Theo quy định này, bên vay phải trả lãi suất quá hạn đối với khoản tiền vay chậm trả với mức lãi suất được chốt cứng là 10%/năm.
So sánh với BLDS 2005 trước đây - quy định lấy lãi suất cơ bản để tính lãi suất quá hạn đối với trường hợp vay không có lãi - có thể nhận thấy quy định của BLDS 2015 đã rõ ràng hơn, mặc dù mức lãi suất mới chỉ tăng 1% so với quy định cũ.
4. Đối với quan hệ cho vay giữa các TCTD và khách hàng
Quy định của BLDS 2015 về lãi suất trần có được áp dụng trong quan hệ cho vay giữa các TCTD với khách hàng hay không? BLDS 2015 quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”
Cụm từ “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” ở đây hoàn toàn có thể được hiểu là trường hợp pháp luật ngân hàng có quy định khác về lãi suất thì sẽ áp dụng quy định về lãi suất theo pháp luật ngân hàng. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:
“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, pháp luật ngân hàng lại tiếp tục dẫn chiếu ngược lại quy định của pháp luật khác về lãi suất cho vay, trong đó có BLDS 2015. Có nghĩa là TCTD và khách hàng có thể sẽ không được thỏa thuận vượt quá mức 20%/năm như quy định của BLDS 2015.
Việc dẫn chiếu qua lại lẫn nhau của hai Luật này đang gây lúng túng trong việc áp dụng pháp luật cho các TCTD và Tòa án. Vì trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) ở mỗi Tòa án xử một kiểu, có Tòa lập luận đương sự trong HĐTD vay vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh, không phải quan hệ dân sự thông thường nên tuyên chấp nhận thỏa thuận về lãi suất của các bên trong HĐTD theo Luật Các tổ chức tín dụng (không bị khống chế bởi lãi suất trần theo BLDS). Có Tòa lập luận BLDS là luật chung, HĐTD mang bản chất của một hợp đồng vay tài sản, do đó phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, trong đó có thỏa thuận về lãi suất (không áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng).
Chúng ta có thể nhận thấy quy định của BLDS ràng buộc lãi suất như một mệnh lệnh hành chính và gây khó khăn cho hoạt động tín dụng của các TCTD. Thực tế lãi suất cho vay của các TCTD được hình thành trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng, cộng với chi phí và tỷ lệ rủi ro. Áp dụng tỷ lệ như BLDS 2015 vô hình trung tạo ra một mức lãi suất trần, khống chế đầu ra của các TCTD, đi ngược lại chủ trương tự do hóa lãi suất của Ngân hàng Nhà nước và đường lối của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, xác định “Thực hiện chính sách lãi suất thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường và đi tới loại bỏ quy định hành chính đối với lãi suất ngoại tệ”. Với mức trần lãi suất như vậy, các TCTD sẽ không thể cho vay đối với các khoản vay có rủi ro cao vì lãi suất không đủ để bù đắp chi phí, làm cho nhu cầu vay vốn của bên đi vay không được đáp ứng, hoạt động sản xuất kinh doanh khó có thể mở rộng. Hơn nữa, sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính này trái với những nguyên tắc thị trường và không phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam về cải cách hệ thống ngân hàng khi gia nhập WTO.
Quay trở lại việc áp dụng quy định pháp luật về lãi suất cho vay cho TCTD. Cần phải kể đến Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (có hiệu lực từ ngày 15/3/2017, sau đây gọi tắt là Thông tư 39). Điều 13 Thông tư 39 quy định: TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp áp dụng mức lãi suất tối đa đối với cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 05 lĩnh vực ưu tiên doThống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ. 05 lĩnh vực ưu tiên đó là:
- Lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
- Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại;
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ;
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao.
Như vậy, ngoại trừ trường hợp cho vay bằng đồng Việt Nam đối với 05 lĩnh vực ưu tiên trên, lãi suất cho vay trong các trường hợp khác được không bị áp mức lãi suất trần, có nghĩa là được thả nổi hoàn toàn. Như vậy, quy định này đã góp phần giải quyết tranh cãi về mức trần lãi suất áp dụng cho các TCTD theo BLDS 2015 và phù hợp với kinh tế thị trường.
Như đã phân tích ở trên, hiệu lực pháp lý của Thông tư 39 thấp hơn Luật. Do đó, để bảo đảo tính hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tác giả đề xuất Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cơ chế lãi suất thỏa thuận theo quy định tại Điều 13 của Thông tư 39 và không dẫn chiếu ngược lại các Luật khác, trong đó có BLDS 2015.
5. Về lãi suất trên nợ gốc quá hạn
Trong thời gian vay, người đi vay phải trả lãi suất trong hạn và các loại phí cấp tín dụng khác. Sau đó, khi hết thời hạn vay mà bên vay chưa trả hết tiền nợ gốc thì phải thêm lãi suất trên nợ gốc quá hạn (còn gọi là lãi suất quá hạn) đối với khoản nợ gốc chưa trả.
Điểm b khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 đã quy định mức lãi suất quá hạn được tính “bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Nghĩa là, mức lãi suất quá hạn sẽ phụ thuộc vào lãi suất vay trong hạn. Ví dụ, nếu thỏa thuận mức lãi suất 2%/năm, thì lãi suất quá hạn phải trả là 3%, còn nếu thỏa thuận lãi suất 10%/năm, thì lãi suất quá hạn phải trả là 15%/năm. Nếu có thỏa thuận về lãi suất nhưng không rõ mức lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất quá hạn cũng được tính bằng 150% x 10%/năm.
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác” ở đây có thể được hiểu là các bên có thể thỏa thuận về việc bên vay không phải trả lãi suất quá hạn hoặc thỏa thuận mức lãi suất quá hạn thấp hơn (tham khảo bài viết “Hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Lê Thị Giang trên Tạp chí Kiểm sát số 10/2017).
Trước đây, khoản 2 Điều 476 BLDS 2005 quy định bên vay phải trả lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Đây là quy định gây ra nhiều tranh cãi vì nợ quá hạn là hành vi vi phạm hợp đồng, nhưng lãi suất quá hạn (tối đa 9% từ năm 2010) lại thấp hơn lãi suất trong hạn (150% x 9% từ năm 2010) đã thỏa thuận trước đó.
Như vậy, việc quy định lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn là quy định phù hợp hơn và đồng bộ với quy định về lãi suất quá hạn trong quan hệ tín dụng.
6. Lãi suất chậm trả nợ lãi
Ngoài việc trả nợ gốc, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn thì khi khách hàng không trả được lãi phát sinh đúng thời hạn thỏa thuận thì sẽ bị áp dụng thêm một mức lãi suất nữa gọi là lãi suất chậm trả lãi.
Điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 quy định mức lãi này là 10%/năm, nhưng chỉ áp dụng đối với việc chậm trả lãi suất trong hạn, đối với lãi suất quá hạn thì không quy định tính lãi suất chậm trả. Việc một số Tòa án chấp thuận quan điểm của đương sự trong việc áp dụng đồng thời lãi phạt quá hạn và lãi suất quá hạn trong thời gian qua đều là không phù hợp quy định pháp luật (quan điểm của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao).
So sánh quy định của BLDS 2015 với Thông tư 39 về lãi suất cho vay:
Trong tương quan so sánh với pháp luật ngân hàng (Thông tư 39/2016), ngoại trừ cơ chế lãi suất theo thỏa thuận của các TCTD với khách hàng, có thể nhận thấy quy định về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả nợ lãi của các quan hệ cho vay dân sự thông thường (theo BLDS 2015) và quan hệ cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, nhu cầu đời sống (theo pháp luật ngân hàng) đã tiệm cận với nhau, tăng tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các cơ quan nhà nước trong việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật về lãi suất.
Có thể tóm tắt khoản nợ, lãi vay phải trả (trong trường hợp cho vay có lãi) như hình dưới đây:
Văn Đức