Hoạt động “giám sát” của Ban có một vị trí, vai trò rất quan trọng đảm bảo cho Hội đồng nhân dân (sau đây xin gọi là HĐND) thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, thực hiện nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân, của Nhân dân và do Nhân dân. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND. Điều này đã được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X “Nâng cao chất lượng của HĐND và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của HĐND”. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến hoạt động giám sát của Ban thuộc HĐND.
Khoản 1 Điều 2 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sau đây xin gọi tắt là Luật Giám sát) định nghĩa: “giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Và, Ban của HĐND giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của cơ quan Nhân dân, các cơ quan thuộc UBND cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách (điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Giám sát).
Hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó năng lực hoạt động của Ban đóng vai trò quan trọng nhất. Điều đó cho thấy trách nhiệm của Ban hết sức nặng nề, bởi giám sát là một hoạt động rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Hoạt động giám sát của Ban không chỉ đơn thuần là việc xem xét và quyết định những vấn đề nằm trong văn bản pháp luật mà cả những vấn đề đã, đang và sẽ xảy ra trong thực tế cuộc sống, xã hội. Không chỉ đánh giá mặt làm tốt, đúng pháp luật, đúng nghị quyết của HĐND mà quan trọng là phát hiện những yếu kém tồn tại, làm trái pháp Luật và Nghị quyết,…
Hoạt động thẩm tra, giám sát của các Ban được Thường trực HĐND phân công cụ thể bảo đảm khoa học, đúng lĩnh vực. Mỗi Ban chủ động thu thập thông tin, tổ chức giám sát, khảo sát bằng nhiều hình thức để nắm tình hình thực tế về những vấn đề liên quan đến nội dung thẩm tra. Theo đó, hoạt động thẩm tra của Ban thể hiện được chính kiến và nêu rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, trên cơ sở đó giúp đại biểu HĐND có thêm thông tin để thảo luận và quyết định. Nhiều ý kiến phát biểu, thảo luận một cách nghiêm túc, dân chủ và thiết thực. Việc khảo sát, giám sát các Ban không chỉ phát hiện ra các sai sót của các Sở, ngành mà còn đưa ra được các kiến nghị, đề xuất, những giải pháp khắc phục, giúp các đối tượng bị giám sát kịp thời “uốn nắn” chấn chỉnh những sai sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Các đại biểu đã vận dụng đường lối, chính sách, pháp luật Nhà nước, hoàn cảnh thực tế ở địa phương để phân tích đánh giá các bản báo cáo một cách khách quan, khoa học, có căn cứ cụ thể. Từ đó đã giúp cho HĐND ban hành những nghị quyết phù hợp với chủ trương chính sách, pháp luật Nhà nước và sát với thực tế địa phương, làm cho hoạt động của HĐND có nhiều chuyển biến tích cực, tạo được niềm tin cho cử tri và Nhân dân. Đồng thời qua đó cũng giúp cho các cơ quan lập báo cáo nâng cao tinh thần trách nhiệm trước HĐND. Có thể nói, hoạt động giám sát của Ban đã mang lại nhiều kết quả, bước đầu đã khắc phục tính “hình thức” trong hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát nói riêng.
Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy công tác giám sát Ban đối với các chủ thể chịu sự giám sát nói trên còn có mặt hạn chế, chưa đi vào “chiều sâu” các vấn đề bức xúc mà cử tri đang quan tâm, chưa có nhiều ý kiến lật ngược vấn đề, mang tính phản biện, hỏi chỉ để biết, không truy đến cùng trách nhiệm của đối tượng bị giám sát. Kết luận giám sát thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận đó nên vẫn còn hiện tượng sau giám sát sự việc lại đâu vào đó, chưa đáp ứng được mong mỏi của Nhân dân. Vì thế không tránh khỏi hình thức và chưa thực quyền so với quy định của Luật
Việc xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát chưa đồng bộ còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban nên không tránh khỏi sự chồng chéo. Việc bố trí thời gian giám sát chưa phù hợp với tình hình công tác thực tế của từng thành viên, nên chất lượng giám sát chưa cao. Chưa có nhiều cuộc giám sát đột xuất các vấn đề bức xúc được cử tri và Nhân dân quan tâm mà chủ yếu tập trung vào những vấn đề định kỳ, thường xuyên.
Kỹ năng giám sát chưa được quan tâm đúng mức, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đại biểu chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, đặc biệt ít có nội dung bồi dưỡng về nghiệp vụ giám sát. Vì vậy, trong thực tế không ít đại biểu chưa sử dụng đúng quyền năng giám sát của mình. Mặc khác, phần lớn thành viên của Ban làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và hầu hết là cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan Nhà nước, cấp ủy và đoàn thể; đối tượng giám sát và nội dung giám sát rất rộng, đa dạng và phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng,… nên các thành viên Ban rất ít có thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu nói chung và công tác giám sát nói riêng, mà chỉ tập trung vào các đại biểu chuyên trách, trong khi đó, công việc giám sát đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Việc cung cấp thông tin, tài liệu báo cáo gửi đến cho các đại biểu thường chậm so với thời gian họp và thảo luận, trong khi giám sát vẫn còn tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả giám sát của Ban chưa cao.
Thiết nghĩ, để góp phần tăng cường có hiệu lực, hiệu quả chức năng giám sát của Ban, cần phải “trang bị” kỹ năng giám sát cho đại biểu HĐND, thường xuyên tập huấn cho đại biểu chuyên trách của Ban. Cần lựa chọn, xác định phạm vi, nội dung giám sát bảo đảm phù hợp, nên lựa chọn một số vấn đề trọng tâm, có nhiều bất cập, đã và đang được dư luận quan tâm, cần có giải pháp khắc phục; không nên ôm đồm nhiều nội dung để tránh dàn trải, giám sát không sâu. Phải “đeo bám” đến cùng các kiến nghị của giám sát một cách triệt để thì tác dụng của nó sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Có thể mời chuyên gia giỏi có kinh nghiệm, năng lực, ở các lĩnh vực tham gia đoàn giám sát. Chương trình, kế hoạch giám sát cần rà soát kỹ trước khi ban hành để tránh trùng chéo về thời gian, đơn vị, địa bàn và không gây phiền hà, xáo trộn hoạt động của cơ quan, đơn vị được giám sát. Khi xây dựng đề cương giám sát cần phải nghiên cứu kỹ các văn bản quy định pháp luật, tài liệu liên quan, ý kiến cử tri, kênh thông tin báo chí. Mỗi chủ thể chịu sự giám sát có một đề cương riêng, hạn chế việc xây dựng một đề cương chung gửi tới các cơ quan, đơn vị.
Về phía các đối tượng chịu sự giám sát, yêu cầu thông tin trong báo cáo phải đầy đủ, khách quan phản ánh đúng thực trạng hoạt động cũng như những vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết, tài liệu gửi giám sát phải bảo đảm thời gian cần thiết cho đại biểu nghiên cứu trước. Đồng thời phải nêu những kết quả đạt được, những khó khăn yếu kém tồn tại, từ đó đề ra các biện pháp giải quyết và kiến nghị đề xuất giải quyết. Khi báo cáo thẩm tra được trình ra HĐND, đại biểu HĐND cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp ý kiến xác đáng để các cơ quan báo cáo giải trình trước HĐND. Có như vậy, nghị quyết của HĐND mới thực sự “đi vào cuộc sống”, phản ánh chất lượng hoạt động giám sát của Ban./.
Ngọc Gia