Trước tiên, phải khẳng định rằng: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân ngày càng “đi vào cuộc sống”, chất lượng hoạt động của HĐND ngày càng được nâng cao chính là hình ảnh “phản chiếu” của công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ của Văn phòng HĐND cùng với kết quả của hoạt động khảo sát, thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án của Ban của HĐND - “mắt xích” then chốt, rất quan trọng, không thể thiếu trong bộ phận cấu thành của HĐND.
Trong nội dung bài viết, tác giả chỉ đề cập đến chất lượng báo cáo thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án (sau đây xin gọi là dự thảo) của Ban – kết quả của quá trình khảo sát, giám sát, nghiên cứu, phản biện trên cơ sở cụ thể hóa các chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng,… và nâng cao đời sống Nhân dân trong tỉnh.
Theo quy định tại khoản 4, Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sau đây xin gọi là Luật), thì “Ban của Hội đồng nhân dân là cơ quan của Hội đồng nhân dân, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân” và “Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công” (khoản 2 Điểu 109 của Luật). Đồng thời, nội dung thực hiện nhiệm vụ của Ban phải tập trung vào các vấn đề khi thẩm tra là: ”a) Nội dung của dự thảo nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật” (khoản 3 Điều 124 Luật Ban hành văn bản) và, trong nội dung: “báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 3 Điều này và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau” (khoản 4 Điều 124 Luật Ban hành văn bản).
Như vậy, báo cáo thẩm tra - một sản phẩm của toàn bộ thành viên của Ban- là một trong những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu của các Ban HĐND, nhằm xem xét tính khoa học, tính chính xác, tính hợp lý, hợp pháp, tính khả thi của các vấn đề đư¬ợc trình bày trong dự thảo trình HĐND. Là cơ sở giúp đại biểu HĐND có thêm thông tin, thấy được những vấn đề cần tập trung để thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và phát triển đời sống Nhân dân ở địa phương, góp phần đảm bảo cho nghị quyết của HĐND khi ban hành phát huy được tính hiệu lực, hiệu quả.
Nhìn chung, thời gian qua, hoạt động thẩm tra của Ban được thực hiện đảm bảo đúng quy trình, từng bước đổi mới vào từng nội dung, lĩnh vực. Để có báo cáo thẩm tra, các thành viên của Ban HĐND đã tăng cường khảo sát, nắm tình hình và nghiên cứu tài liệu tham khảo để phục vụ hoạt động thẩm tra. Báo cáo thẩm tra được chuẩn bị công phu, chất lượng từng bước được nâng lên, các nội dung của dự thảo nghị quyết được phân tích, đề nghị bổ sung lý do, đề xuất, kiến nghị các giải pháp chủ yếu phù hợp với tình hình thực tế. Những vấn đề kiến nghị, đề nghị làm rõ được UBND chấp nhận và giải trình bằng văn bản hoặc trực tiếp tại kỳ họp.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thẩm tra của các Ban còn một số hạn chế như: Việc nghiên cứu, tìm kiếm, thu thập tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung thẩm tra có lúc còn bị động, hoạt động khảo sát còn mang tính hình thức; sự phối hợp giữa các Ban với các cơ quan chuyên môn, cơ quan xây dựng dự thảo chưa chặt chẽ; việc tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, những người am hiểu về nội dung thẩm tra chưa được thực hiện; trong quá trình thẩm tra một số thành viên Ban tham gia ý kiến còn ít; chưa mang tính phản biện xã hội cao, có nội dung thẩm tra chưa tập trung vào trọng tâm vấn đề cần thẩm tra, một số kiến nghị còn chung chung, ý kiến nêu trong báo cáo thẩm tra còn “chưa sâu”, chưa đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 124 của Luật Ban hành văn bản để kết luận, khẳng định vấn đề. Phần lớn đều thống nhất với nội dung tờ trình dẫn đến chất lượng thẩm tra chưa cao, có nghị quyết ban hành một thời gian lại phải điều chỉnh bổ sung vì chưa phù hợp thực tiễn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các tồn tại trên, tuy nhiên có thể tập trung ở một số các yếu tố sau:
Thứ nhất: Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Luật Ban hành văn bản thì: Chậm nhất 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra để thẩm tra , tuy nhiên thời hạn này hầu như bị vi phạm “thường trực”. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả báo cáo thẩm tra của Ban. Thành viên chuyên trách của Ban không có đủ thời gian để nghiên cứu hồ sơ dự thảo. Đặc biệt đối với Ban Kinh tế ngân sách vì khối lượng công việc của Ban chiếm đến 80% số lượng nghị quyết được ban hành trong kỳ họp. Vì vậy, đối với các thành viên kiêm nhiệm của Ban thì thời gian nghiên cứu lại càng “eo hẹp” hơn. Chỉ khi họp mới có hồ sơ thì việc nghiên cứu hồ sơ dự thảo để phản biện, nêu các chính kiến, thảo luận chuyên sâu là “nhiệm vụ bất khả thi”;
Thứ hai: Hồ sơ gửi kèm dự thảo không đầy đủ, thiếu thông tin liên quan đến dự thảo. Nhất là ý kiến đóng góp của đối tượng chịu sự tác động của dự thảo được quy định tại Điều 113 Luật Ban hành văn bản mà thường chỉ có ý kiến góp ý của các cơ quan có liên quan mà thôi. Điều này dẫn đến khi triển khai thi hành nghị quyết thì hay xẩy ra khiếu nại, tố cáo giữa đối tượng chịu sự tác động của nghị quyết với chủ đầu tư. Bên cạnh đó, ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp đối với dự thảo là vô cùng quan trọng nhưng cơ quan trình vẫn đôi khi “bỏ lơ” không đưa vào hồ sơ dự thảo. Hoặc là căn cứ pháp lý để cơ quan trình trình HĐND thì lại viện dẫn căn cứ vào công văn của Doanh nghiệp. Tất cả các yếu tố này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng báo cáo của Ban. Nếu căn cứ vào các quy định của pháp luật thì các hồ sơ dự thảo này Ban đều phải trả về, không thẩm tra để cơ quan trình bổ sung các tài liệu đầy đủ, bảo đảm vào kỳ họp khác nhưng như vậy, thì cũng ảnh hưởng không ít đến việc điều hành tình hình hoạt động phát triển về kinh tế xã hội chung của UBND tỉnh và đâu đó còn cho rằng Hội đồng nhân dân làm khó dễ UBND nếu Ban từ chối thẩm tra các dự thảo này.
Thứ ba: Cán bộ tham mưu, giúp việc của Ban còn hạn chế về số lượng, bên cạnh đó, các thành viên của Ban đa số là kiêm nhiệm, mà các thành viên này cũng là cán bộ lãnh đạo ở các địa phương của tỉnh, nên công việc rất bận, thời gian giành cho việc nghiên cứu các dự thảo còn chưa nhiều nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng của báo cáo,…
Để nâng cao chất lượng công tác thẩm tra các dự thảo nghị quyết trình tại các kỳ họp HĐND của các Ban và tiếp tục phát huy có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo chất lượng, mang tính phản biện cao của các báo cáo thẩm tra, tác giả xin đề xuất một số ý kiến sau:
1/ Dự thảo nghị quyết gửi đến HĐND phải kiên quyết đúng thời gian, chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp theo quy định tại Điều 124 Luật Ban hành văn bản. Việc gửi dự thảo đúng thời gian để bảo đảm các thành viên nghiên cứu, đối chiếu, phát hiện những vấn đề cần phải giải quyết, thể hiện được chính kiến của cơ quan thẩm tra và có những kiến nghị xác đáng, khả thi là cơ sở quan trọng, gợi mở cho các đại biểu HĐND thảo luận làm sáng tỏ các vấn đề trước khi quyết định. Góp phần nâng cao trách nhiệm thực hiện pháp luật đúng quy định của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tham mưu, giúp việc trình dự thảo cho HĐND để Ban thẩm tra;
2/ Thành phần hồ sơ dự thảo phải bảo đảm theo quy định tại các Điều 120, 121, 122, 123, 124 và 125 Luật Ban hành văn bản. Việc bảo đảm thành phần hồ sơ theo quy định của pháp luật nhằm cung cấp thông tin cho đại biểu có cơ sở nghiên cứu, phản biện, trình bày chính kiến bên cạnh các kênh thu thập thông tin khác của thành viên Ban và các đại biểu tham dự phiên họp thẩm tra, nhất là việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết. Việc lấy ý kiến của đối tượng này, thời gian qua, chúng ta hầu như chưa quan tâm đúng mức. Do đó, cơ quan trình dự thảo cần phải quán triệt một cách nghiêm túc việc lấy ý kiến của đối tượng này và đồng thời phải bảo đảm rằng đây là 01 tài liệu buộc phải có khi Ban thẩm tra trước khi trình ra Hội đồng nhân dân, việc này cũng góp phần giảm việc khiếu nại, tố cáo khi nghị quyết được triển khai trên thực tế;
3/ Thành phần dự họp của cơ quan trình dự thảo báo cáo Ban phải đảm bảo đúng đối tượng, đúng chủ thể. Tránh việc ủy quyền cho các Sở rồi sau đó, Sở lại ủy quyền tiếp cho chuyên viên của các Sở, ngành sang trình hồ sơ dự thảo. Đây là vấn đề không nghiêm túc trong báo cáo, cần phải chấn chỉnh nghiêm khắc. Bởi lẽ, về chủ thể trình dự thảo cho Ban, Luật đã quy định thì không thể để cán bộ chuyên viên trình bày báo cáo dự thảo. Mặc khác, việc tiếp thu, giải trình dự thảo sẽ không bảo đảm tính nguyên nghĩa, sát thực với các ý kiến phản biện, đề nghị tiếp thu chỉnh sửa của thành viên Ban và các đại biểu tham dự;
4/ Đối với các dự thảo đã bị Ban đề nghị bổ sung tài liệu, hồ sơ mang tính nguyên tắc thì kiên quyết phải rút ra khỏi chương trình của kỳ họp nhằm bảo đảm thời gian cho việc thẩm tra lần sau (nếu việc bổ sung tài liệu này không bảo đảm 15 ngày trước khi kỳ họp khai mạc). Không vì “chạy theo” dự kiến số lượng dự thảo nghị quyết sẽ ban hành hoặc áp lực cần phải ban hành nghị quyết trong kỳ họp này mà bỏ qua các quy trình thẩm định đã được luật định. Nếu các dự thảo này quan trọng, cấp bách thì có thể họp phiên bất thường để thông qua vì kênh thẩm tra của Ban rất quan trọng, “nó mổ xẻ” các vấn đề mang tính chuyên sâu và có thời gian để nghiên cứu kỹ hơn so với các đại biểu tại kỳ họp đồng thời bảo đảm nâng cao tính hiệu quả, chất lượng của báo cáo thẩm tra như với tiêu đề của bài viết đã đặt ra;
5/ Việc họp nhất các văn phòng của: HĐND, Đoàn đại biểu Quốc hội, UBND tỉnh sẽ giải quyết được đội ngũ công tác tham mưu, giúp việc của chuyên viên tham mưu vì lúc này việc tham mưu có tính xuyên suốt nên sẽ chuyên nghiệp hơn trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu để thành viên Ban nghiên cứu, tham khảo và phản biện cũng như tiện lợi trong việc khảo sát, giám sát.
6/ Bên cạnh sự phân công trách nhiệm của lãnh đạo Ban chuyên trách thì cần phải phân công một số thành viên Ban chủ lực am hiểu trong lĩnh vực cần thẩm tra để ý kiến của các thành viên Ban được chuyên sâu hơn. Do đó mỗi thành viên Ban cần phải thấy trách nhiệm của mình đối với hoạt động chung của Ban, tham gia đầy đủ các cuộc giám sát, khảo sát, làm việc tại cơ sở của Ban để có những căn cứ cho ý kiến thẩm tra sau này; dành thời gian hợp lý cho việc nghiên cứu dự thảo. Như vậy báo cáo thẩm tra sẽ phát huy được trí tuệ của các thành viên Ban và đạt chất lượng tốt.
7/ Nội dung của báo cáo thẩm tra phải tập trung vào 04 vấn đề được quy định tại khoản 3 Điều 124 Luật Ban hành văn bản và báo cáo thẩm tra phải thể hiện chính kiến, quan điểm của Ban đồng thời đề xuất những nội dung còn có ý kiến khác nhau được quy định trong Luật (khoản 4 Điều 124).
8/ Ban nên triển khai cơ chế thuê chuyên gia phản biện độc lập để tập hợp các ý kiến của chuyên gia đầu ngành. Đây là kênh thông tin cực kỳ quan trọng, nó phản ánh khách quan, trung thực các tài liệu, chứng cứ, luận cứ,… có trong hồ sơ dự thảo mà thành viên Ban không thể có đủ thời gian cũng như sự hạn chế nhất định đối với từng lĩnh vực của thành viên Ban./.
Ngọc Gia