Bàn về Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)
Ngọc Gia – Luật gia
Ngày 29/11/2005, Luật Phòng, chống tham nhũng, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua. Đến nay, đã nhiều lần tiến hành sửa đổi, bổ sung, cụ thể: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 (viết tắt Luật PCTN). Tuy nhiên, sau những lần sửa đổi, bổ sung thì tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp hơn, gây bức xúc trong Nhân dân. Thực tế, việc xử lý tham nhũng và kiểm soát, minh bạch tài sản vẫn là khâu yếu nhất hiện nay. Mặc khác, việc đưa ra xét xử án tham nhũng chiếm tỉ lệ rất thấp so với vụ việc được phát hiện và kết quả thu hồi tài sản tham nhũng đạt được rất ít so với số tài sản phải thu hồi. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật PCTN là cần thiết.
Sau khi nghiên cứu Dự thảo Luật PCTN, tác giả nêu một số ý kiến sau:
1/ Điều 3. Giải thích từ ngữ
- Thứ nhất, tại điểm b khoản 1 Điều 3 đã định nghĩa: Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm là: công nhân và công nhân công an là chủ thể của người có chức vụ, quyền hạn là chưa phù hợp vì đặc trưng của tham nhũng phải là người có chức vụ, quyền hạn mà công nhân và công nhân công an thì không phải là người có chức vụ, quyền hạn. Mặc khác, tại Điểm d thì: Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó đã bao gồm chủ thể công nhân và công nhân công an. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bỏ chủ thể này trong Dự thảo.
- Thứ hai, khoản 8 định nghĩa: Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng. Vậy đối với hành vi vụ lợi mà chính đáng thì hợp pháp? Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bỏ cụm từ không chính đáng trong Khoản 8 Điều này
2/ Điều 4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng
Khoản 2 Điều 4 yêu cầu Doanh nghiệp, tổ chức ngoài khu vực nhà nước (sau đây gọi là doanh nghiệp) có trách nhiệm:
a) Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức mình theo quy định của Luật này;
b) Kịp thời phát hiện, phản ánh, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi tham nhũng xảy ra trong doanh nghiệp, tổ chức mình và xử lý theo quy định của điều lệ, quy chế hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức;
Ngoài chủ thể là doanh nghiệp được điều chỉnh tại Điều 86 của Dự thảo thì tài sản của các doanh nghiệp còn lại là tài sản của cá nhân nên không thể buộc chủ thể này phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phản ánh, kiến nghị các tham nhũng trong doanh nghiệp. Mặc khác, đây là tài sản của cá nhân thì không thể buộc chủ thể này phải có trách nhiệm xây dựng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng của chính tài sản của mình là không đúng về mặt lý luận cả thực tiễn. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bỏ điểm a và b của khoản 2 Điều này và sửa đổi, chỉ giữ lại điểm c.
Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm:Phản ánh, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng.
3/ Điều 19. Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ
Vừa qua, thông qua các phương tiện báo chí phản ảnh nhiều trường hợp đi công tác nước ngoài, khái toán vượt gấp nhiều lần về định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc ra quyết định cử thành viên tham gia đoàn công tác ra nước ngoài, sử dụng ngân sách nhà nước không đúng đối tượng. Kết quả đã điều chỉnh lại khái toán này và điều chỉnh đối tượng cho phù hợp, đúng đối tượng và định mức, tiêu chuẩn. Vấn đề này gây tốn bao thời gian, công sức của xã hội, dẫn đến sự hoài nghi về tính công bằng, nghiêm minh của luật pháp. Vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc phải xây dựng thiết chế chế tài đối với các trường hợp đã cố tình khái toán vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhằm tránh kiểu 01 tỉ cũng được mà 100 triệu cũng xong để bảo đảm tính nghiêm túc, nghiêm minh trong hoạt động công vụ.
4/ Điều 22. Tặng quà và nhận quà tặng
Thực trạng tham nhũng hiện nay đang diễn ra một cách hết sức phức tạp và khó lường, không những thế, hiện tượng này còn xuất hiện trên rất nhiều lĩnh vực và đang có xu hướng gia tăng về cả quy mô lẫn tính chất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm của Nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta là cần- kiệm - liêm - chính”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Nếu chúng ta không quản lý tốt công tác cán bộ, quản lý xã hội,… mà để cho “giặc nội xâm” ngày càng nghiêm trọng thì chắc chắn hậu quả sẽ là cái mà chúng ta có thể thấy được ngay đó là vấn đề tồn vong của chế độ.
Việc quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận quà dưới mọi hình thức là cần thiết để phòng, chống tham nhũng nhưng chúng ta không được quên một điều rất quan trọng đó là Điều luật phải có tính khả thi, hiện thực trên thực tế nhằm tránh sự bêu riếu của các thế lực thù địch và tính phô trương hình thức của điều luật. Theo tác giả, tặng quà là hành vi nhân văn, thể hiện giá trị về tinh thần đặc biệt trong những dịp: lễ, tết, cưới xin, sinh nhật,… là việc hết sức bình thường, là một phần văn hóa của người Việt. Vấn đề này rất tế nhị và cũng rất dễ biến tướng thành một kênh hối lộ, tham nhũng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội đang hướng tới để phòng, chống. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo hết sức cân nhắc quy định để điều luật được triển khai trên thực tế. Nên định lượng giá trị của quà tặng không được gấp 2 or 03 lần mức lương cơ bản và Chính phủ quy định chi tiết của điều luật này hợp lý đồng thời phải xây dựng chế tài của việc tặng quà và nhận quà bởi vì nếu quy định không được tặng quà và nhận quà mà không có chế tài thì tính nghiên minh của Điều luật không hiện thực.
5/ Điều 24. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã quy định việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là công việc của cả hệ thống chính trị và xác định ngày 9/11 hàng năm là ngày Pháp luật. Do đó, việc quy định chi tiết các khoản 1 đến khoản 3 là thừa và vi phạm khoản 2 Điều 8 của Luật Ban hành văn bản 2015 là quy định lại những điều đã được luật khác quy định. Vì vậy, Điều này cần sửa đổi, bổ sung như sau:
24.Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng
Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng được thực hiện theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
6/ Điều 30. Thanh toán không sử dụng tiền mặt
Điểm b khoản 2 của Điều luật quy định: b) Các khoản chi từ ngân sách nhà nước không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên là ít có tính thực tiễn cao. Bởi lẽ, tiền trượt giá rất nhanh, nếu chúng ta định lượng với mức 02 triệu đồng cho 01 khoản chi thì tính ổn định của Luật không cao. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo nên quy định khoản này theo hướng tăng gấp 2 hoặc 3 lần mức lương cơ sở để khi tính trượt giá sẽ tăng thêm định mức chi cho phù hợp với tình hình chung và tránh lạc hậu của Điều luật.
7/ Điều 56. Xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực
Thái độ của Nhà nước đối với hành vi không kê khai tài sản, thu nhập không trung thực cần phải mạnh mẽ, kiên quyết, nghiêm khắc, thể hiện sự không khoan nhượng, tuyên chiến với hành vi này. Đó là buộc giáng chức đối với người có chức vụ và buộc thôi việc đối với người không có chức vụ. Chỉ có nghiêm khắc thì mới dễ dàng đưa hành vi này vào trong vòng kiểm soát và sẽ tạo điều kiện trong việc thi hành Điều 57 của Luật. Vì thế, cần sửa đổi khoản 3 Điều này theo hướng:
Người đã được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì bị giáng chức; người không có chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì buộc thôi việc.
Điều 57. Xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được hợp lý về nguồn gốc
Phương án 02 là đơn giản và phù hợp với đặc điểm của nước ta. Bởi lẽ, Luật Thuế thu nhập cá nhân đã quy định về các trường hợp thu nhập kê khai không trung thực, thì việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được hợp lý về nguồn gốc sẽ bảo đảm. Mặc khác, theo phương án 2 thì ngoài việc thu thuế quy định tại khoản 1 Điều này không loại trừ việc xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và tịch thu tài sản đối với người có nghĩa vụ kê khai, nếu các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ việc hành chính mà chứng minh được tài sản, thu nhập này do vi phạm pháp luật mà có.
8/ Dự thảo dùng rất nhiều lần chữ “hằng” trong điều luật. Đây là văn nói, không phải văn viết. Đề nghị Ban soạn thảo chỉnh sửa lại chữ “hằng” bằng chữ “hàng” để phù hợp với văn viết.
Trên đây là góp ý của tác giả, rất mong sự trao đổi với các độc giả./.