Với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự an toàn, môi trường biển, bảo đảm việc chấp hành pháp luật trên biển và yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong tổ chức thực hiện Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 26/01/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2008 ( sau đây xin gọi là Luật CSBVN). Việc xây dựng Dự thảo Luật CSBVN là thể chế hóa đầy đủ mục tiêu, chính sách của Đảng về định hướng Chiến lược biển đến năm 2020, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là định hướng Chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên biển đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của lực lượng CSBVN đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Để góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật CSBVN, tác giả xin góp ý một số vấn đề sau đối với Dự thảo.
1/ Điều 2. Giải thích từ ngữ:
Khoản 2. Biện pháp nhân đạo là cách thức sử dụng lực lượng, phương tiện và các trang thiết bị khác trong thực hiện tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; giúp đỡ, hỗ trợ, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, các hoạt động hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Cụm từ sử dụng lực lượng, phương tiện và các trang thiết bị khác trong Khoản này là thừa, vì khi thực hiện bất cứ một hành vi nào thì tất yếu chúng ta phải sử dụng nhân lực, vật lực, phương tiện,… để giúp chúng ta đạt được mục đích. Do đó, cụm từ này nên bỏ và Khoản này cần sửa đổi như sau:
Biện pháp nhân đạo là cách thức thực hiện tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; giúp đỡ, hỗ trợ, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, các hoạt động hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2/ Khoản 2 Điều 3. Vị trí, chức năng của CSBVN
Cảnh sát biển Việt Nam có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật và chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên biển.
Như đã dẫn, đây là Dự thảo góp ý cho Luật CSBVN, do đó, CSBVN có vị trí, chức năng hoạt động trên biển, chứ không phải hoạt động trên không và trên đất liền. Vì thế, từ Trên biển là thừa, không cần thiết và mặc khác, phù hợp, nhất quán với Khoản 2 Điều 4: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Do đó, Khoản này cần sửa đổi như sau:
Cảnh sát biển Việt Nam có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật và chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3/ Khoản 1, 2 Điều 5. Xây dựng CSBVN
1. Nhà nước xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; ưu tiên phát triển nguồn lực xây dựng, phát triển Cảnh sát biển Việt Nam.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước cách mạng, của Nhân dân, do Nhân dân và Vì Nhân dân. Vì thế, các thành tố của Nhà nước này, mặc nhiên phải là cách mạng. Do đó, nên bỏ cụm từ cách mạng;
Về đoạn: ưu tiên phát triển nguồn lực xây dựng, phát triển Cảnh sát biển Việt Nam nên bỏ từ Phát triển vì đã ưu tiên phát triển nguồn lực xây dựng CSBVN là đã bao hàm tất cả mọi mặt trong đó có nội dung phát triển CSBVN. Khoản này cần sửa đổi như sau:
Nhà nước xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; ưu tiên phát triển nguồn lực xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam.
2. Cơ quan, tổ chức và công dân Việt Nam có trách nhiệm tham gia xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam trong sạch, vững mạnh.
Cần phải quy định thêm chủ thể trong việc tham gia xây dựng CSBVN đó là: Các đơn vị vũ trang nhân dân cho phù hợp với Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, Khoản này cần sửa đổi như sau:
Cơ quan, tổ chức, các đơn vị vũ trang nhân dân và công dân Việt Nam có trách nhiệm tham gia xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam trong sạch, vững mạnh
4/ Khoản 1 Điều 8. Nhiệm vụ của CSBVN
Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất với cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển.
Khoản này có nội dung tương tự như Khoản 2 Điều 3. Vì thế nên bỏ toàn bộ Khoản này.
5/ Khoản 1 Điều 9. Quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam
Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện, hàng hóa trong vùng biển Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam.
Điều này quy định là về nhiệm vụ, quyền hạn của CSBVN. Trong khi đó, trong Khoản này lại tiếp tục nhắc lại theo chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam. Điều này là thừa, không cần thiết nên bỏ cụm từ theo chứ năng, nhiệm vụ của CSBVN. Do đó, Khoản này cần sửa đổi như sau:
Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện, hàng hóa trong vùng biển Việt Nam.
6/ Khoản 3 Điều 9
Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự.
Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện, nếu trong Khoản này mà chúng ta liệt kê các văn bản pháp luật cụ thể để điều chỉnh hành vi của CSBVN thì dễ dẫn đến nếu chúng ta xây dựng thêm Luật mới có nội dung sẽ điều chỉnh 01 hoặc 01 số hành vi cuả lực lượng CSBVN tại khoản này sẽ mất tính ổn định của Luật. Do đó, đề nghị gữi nguyên đoạn Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật và bỏ toàn bộ đoạn còn lại là đủ. Vì vậy, sửa đổi khoản này như sau:
Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật
7/ Điểm c khoản 2 Điều 14. Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Khi có căn cứ cho rằng, trên tàu thuyền chở đối tượng phạm tội hoặc chở vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma tuý, bảo vật quốc gia, cố tình chạy trốn;
Bảo vật quốc gia mà vận chuyển hợp pháp theo hợp đồng gửi giữa hoặc triển lãm thì làm sao mà nổ súng để buộc dừng tàu thuyền. Theo tác giả, cần phải quy định cụ thể là bảo vật quốc gia bị đánh cắp thì rõ ràng và chính xác hơn.
Khi có căn cứ cho rằng, trên tàu thuyền chở đối tượng phạm tội hoặc chở vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma tuý, bảo vật quốc gia bị đánh cắp, cố tình chạy trốn;
8/ Điều 15. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ
Cảnh sát biển Việt Nam sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để thu thập thông tin, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự.
Quy định tại Điều này, lủng củng, lộn xộn. Cần sửa đổi như sau:
Cảnh sát biển Việt Nam sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để thu thập thông tin, phát hiện vi phạm pháp luật và điều tra, xử lý tội phạm theo quy định của pháp luật.
9/ Điều 16. Huy động người, tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự
1. Trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người, tàu thuyền, phương tiện vi phạm pháp luật; tìm kiếm cứu nạn; ứng phó, khắc phục sự cố môi trường nghiêm trọng, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển huy động người, tàu thuyền, phương tiện, và thiết bị kỹ thuật dân sự của tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Việc huy động phải bảo đảm phù hợp với pháp luật, khả năng thực tế của người, tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động và trong khoảng thời gian cần thiết. Tàu thuyền, phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự phải được hoàn trả ngay khi tình thế khẩn cấp chấm dứt. Nếu người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thiệt hại thì được hưởng chế độ, chính sách quy định tại Điều 6 của Luật này; trường hợp tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động bị mất mát, hư hỏng thì cơ quan có cán bộ, chiến sĩ huy động phải đền bù theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người và phương tiện vi phạm pháp luật; tìm kiếm cứu nạn; ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển nghiêm trọng, Cảnh sát biển Việt Nam đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân nước ngoài đang hoạt động trong vùng biển Việt Nam.
Khoản 1 và khoản 2 cần gộp lại với nhau vì đều có chung một mục đích khi huy động người, tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự trong trường hợp khẩn cấp. Do đó, cần sửa đổi như sau:
1. Trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người, tàu thuyền, phương tiện vi phạm pháp luật; tìm kiếm cứu nạn; ứng phó, khắc phục sự cố môi trường nghiêm trọng, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển huy động người, tàu thuyền, phương tiện, và thiết bị kỹ thuật dân sự của tổ chức, cá nhân Việt Nam và đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân nước ngoài đang hoạt động trong vùng biển Việt Nam..
2. Việc huy động phải bảo đảm phù hợp với pháp luật, khả năng thực tế của người, tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động và trong khoảng thời gian cần thiết. Tàu thuyền, phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự phải được hoàn trả ngay khi tình thế khẩn cấp chấm dứt. Nếu người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thiệt hại thì được hưởng chế độ, chính sách quy định tại Điều 6 của Luật này; trường hợp tàu thuyền, phương tiện và thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động bị mất mát, hư hỏng thì cơ quan có cán bộ, chiến sĩ huy động phải đền bù theo quy định của pháp luật.
10/ Về phối hợp hoạt động của CSBVN với lực lượng thuộc các Bộ, ngành, chính quyền địa phương: thống nhất theo phương án 2 là sửa đổi thành Điều 7a là hợp lý và đúng với mục đích khi làm luật đó là khái quát, nhưng cụ thể, không trùng lắp và rõ ràng trong sáng, dễ áp dụng trong thực tế.
Ngọc Gia