[Đăng ngày: 06/09/2018]

Bàn về Dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi)
Phan Gia Ngọc – Phó Chánh Văn phòng HĐND



  Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và ngày 15/3/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Đến nay, Bộ Công an đã tiến hành triển khai tổ chức bộ máy mới theo hướng tinh gọn. Để luật hóa Nghị quyết, việc xây dựng Luật CAND (sửa đổi) là rất cấp thiết nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của lực lượng CAND, thực hiện công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và xây dựng lực lượng CAND.

  Nhằm góp phần vào việc hoàn thiện Dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi), sau khi nghiên cứu dự thảo, tác giả có 01 số trao đổi, góp ý như sau:

  1/ Điều 10. Giám sát hoạt động của Công an nhân dân

  Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. 

  Trong thể chế chính trị mà tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thì giám sát của Nhân dân có vai trò rất quan trọng, tất yếu và không thể thiếu. “Nó” thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và Nhân dân. Giám sát của Nhân dân tuy không mang tính quyền lực pháp lý nhưng có tác dụng phòng ngừa, góp phần ngăn chặn có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật và kỷ luật nhà nước từ phía cơ quan hành chính nhà nước mà ở đây là cơ quan Công an. Nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan Công an nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước; phát hiện, kiến nghị những hành vi, vi phạm pháp luật của lực lượng công an trong thi hành công vụ. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý những vi phạm quyền tự do cơ bản của công dân là để đảm bảo thực thi các giá trị phổ quát và nhân văn của dân tộc và thời đại như: công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền, pháp quyền,... Mặt khác, phát hiện những hạn chế, bất cập để có giải pháp tích cực hoàn thiện, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các biểu hiện tiêu cực. Trên thực tế, trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc, thông qua kênh giám sát trong hoạt động của Công an của Nhân dân mà đã phát hiện ra các tội phạm thuộc lực lượng này. Vì vậy, cần phải mở rộng phạm vi giám sát của Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và tầng lớp Nhân dân đối với hoạt động của cơ quan Công an. Không nên bó buộc trong phạm vi giám sát trong hoạt động thực hiện pháp luật về Công an nhân dân như trong Dự thảo mà phải giám sát toàn bộ hoạt động của Công an nhân dân. Vì phạm vi giám sát hoạt động rất rộng, nó không chỉ bao gồm hoạt động thực hiện pháp luật mà cả trong mọi mặt đời sống xã hội. Do đó, đề nghị bỏ cụm từ “việc thực hiện pháp luật về” của đoạn cuối Khoản 2 Điều này và sửa đổi, bổ sung như sau:

  “2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm tuyên truyền, động viên mọi tầng lớp Nhân dân tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ và xây dựng Công an nhân dân; giám sát hoạt động của Công an nhân dân”.

  2/ Điều 17. Hệ thống tổ chức của Công án nhân dân

  Khoản 1 của Điều 17 quy định hệ thống tổ chức của Công an nhân dân gồm:

  a) Bộ Công an;

  b) Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

  c) Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

  d) Công an xã, phường, thị trấn.

  và khoản 3: “Để đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập các đồn, trạm Công an và các đơn vị độc lập bố trí tại những địa bàn cần thiết.”. Như vậy, Dự thảo Luật định cho Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền thành lập các đồn, trạm và các đơn vị độc lập. Điều này sẽ dẫn đến các vấn đê sau:

  Thứ nhất, các chủ thể này nằm ở đâu trong hệ thống tổ chức của Công an nhân dân?

  Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể này ở cấp nào: Cấp huyện hay cấp xã, phường, thị trấn?

  Mặc dù, dự thảo Luật về việc thành lập các đồn, trạm, … được xây dựng dựa trên sự kế thừa điều Luật Công an nhân dân năm 2014, tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn nhận đúng bản chất của chủ thể này là ai? Bởi lẽ, Luật 2014 không còn phù hợp nên ta mới sửa đổi Luật. Do đó, theo quan điểm của tác giả, chúng ta cần phải đưa các chủ thể được quy định tại khoản này vào điểm d khoản 1, nó có chức năng, quyền hạn, thẩm quyền như cấp xã, phường, trị trấn là mới phù hợp. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều này như sau:

  Điều 17.

  1. Hệ thống tổ chức của Công an nhân dân bao gồm:

  a) Bộ Công an;

  b) Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

  c) Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

  d) Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm và các đơn vị độc lập;

  Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập các đồn, trạm và các đơn vị độc lập bố trí tại những địa bàn cần thiết.

  2. Chính phủ quy định cụ thể việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy. 

  Điều 30. Hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan, sĩ quan Công an nhân dân

  Khoản 4 Điều 30 quy định đối với trường hợp Sĩ quan là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia cao cấp có thể được kéo dài hạn tuổi phục vụ hơn 60 đối với nam và hơn 55 đối với nữ là để bảo đảm năng lực, trí tuệ của các chủ thể này được phát huy đến mức tốt nhất cho ngành công an. Tuy nhiên, cần quy định rõ đối với các chủ thể này là không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý khi được kéo dài tuổi phục vụ nhằm bảo đảm độ tuổi trẻ hóa khi giữ chức vụ giống như quy định về độ tuổi của Thẩm phán TAND Tối cao và VKS nhân dân Tối cao được công tác đến 65 tuổi nhưng không gữi chức danh quản lý là hợp lý. (trừ Chánh án Tối cao và Viện trưởng VKS Tối cao).


 Quang cảnh phiên góp ý Dự thảo Luật Công an

  3/ Điều 33. Bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân

  Khoản 1 Điều 33 quy định: “ Nhà nước bảo đảm điều kiện về ngân sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xây dựng Công an nhân dân bao gồm: đầu tư tài chính, trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện khác, đất đai, trụ sở, công trình, cơ sở công nghiệp và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác.

  Quy định liệt kê các lĩnh vực của Khoản này là thừa vì nội hàm của đoạn “Nhà nước bảo đảm điều kiện về ngân sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xây dựng Công an nhân dân” là đủ, nó đã bao gồm các lĩnh vực đã liệt kê và còn rộng hơn. Mặc khác Khoản 2 cũng đã quy định trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia,… thì Dự luật cũng đã chỉ ra các lĩnh vực nào phải đầu tư và bảo đảm kinh phí. Đồng thời, Khoản 4 cũng đã chỉ ra Chính phủ quy định chi tiết các khoản này. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bỏ đoạn liệt kê của Khoản 1 Điều này và sửa đổi như sau: 

“Nhà nước bảo đảm điều kiện về ngân sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xây dựng Công an nhân dân”

  4/ Điều 39. Chăm sóc sức khoẻ đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, sinh viên, học sinh, công nhân công an và thân nhân

  Việc chăm sóc sức khỏe của thân nhân sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, sinh viên, học sinh, công nhân công an là thể hiện chính sách nhân đạo và cục kỳ quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đối tượng này. Tuy nhiên, Dự thảo Luật lại “bỏ quên” đối tượng là: Thành viên khác của gia đình mà Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, sinh viên, học sinh và công nhân công an phải nuôi dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và người từ đủ 18 tuổi trở lên mà bị tàn tật, không có khả năng lao động theo quy định của BLDS. Do đó, đề nghị bổ sung 02 đối tượng nói trên vào Dự thảo để bảo đảm chính sách của Đảng và Nhà nước đến đúng đối tượng mà Luật Hôn nhân và Gia đình và BLDS đã điều chỉnh.

  5/ Điều 41. Chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, xuất ngũ, nghỉ theo chế độ bệnh binh, hy sinh, từ trần

  Đề nghị Ban Soạn thảo làm rõ nội hàm quy định tại Điểm d khoản 1 vì các chủ thể này khi tại ngũ, đã được hưởng chế độ chính sách về nhà ở xã hội được quy định tại Điều 38. Vì thế, nếu họ về hưu, chuyển ngành,… thì chính sách về hỗ trợ nhà ở có được hưởng thêm 01 lần nữa không?