[Đăng ngày: 01/09/2016]

  Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19/6/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đã quy định cụ thể cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND, UBND. 

  Luật lần này quy định nhiều điểm mới về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị; phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp cho chính quyền địa phương; ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; quy định Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND; các Ban của HĐND là cơ quan của HĐND; quy định bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương..v..v..

  Ngày 22/12/2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1097/2015/UBTVQH13 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Theo đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở tách Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. 

  Do có sự chia tách Văn phòng, ngày 27/5/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2016/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2016. Hiện nay, Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố trên cả nước căn cứ theo thẩm quyền đã thành lập Văn phòng HĐND cấp tỉnh và đã đi vào hoạt động ổn định.

  Tuy nhiên, căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 127 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định: “Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện là cơ quan tham mưu giúp việc cho HĐND và UBND cấp huyện” và giao “Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và việc tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã”. Theo các quy định trên thì Nghị định số 48/2016/NĐ-CP của Chính phủ mới chỉ quy định đối với Văn phòng HĐND cấp tỉnh và chưa có quy định đối với cấp huyện, xã. Đồng thời, theo khoản 2, Điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thì Chính phủ không được ủy quyền tiếp cho bất kỳ cơ quan nào khác để thực hiện việc ban hành văn bản quy định chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện và việc tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của HĐND, UBND cấp xã. Và đến thời điểm hiện nay, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, bộ phận giúp việc cấp xã vẫn đang chờ Nghị định hướng dẫn để thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật. Điều này cho thấy sự thiếu đồng bộ, chưa kịp thời trong việc tổ chức thi hành Luật tổ chức chính quyền địa phương.

  Chính vì chưa có Nghị định quy định cụ thể nên trong thời gian qua, Văn phòng HĐND và UBND, các phòng ban cấp huyện vẫn phải thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 (viết tắt Luật 2003) và áp dụng Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh trên cơ sở của Luật 2003. Và tại các Điều 1, 3, 4, 5 của Nghị định này đã quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn, trong đó: Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện - thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND; thực hiện một số nhiệm vụ do UBND cấp huyện giao hoặc theo quy định pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý toàn diện và Chánh Văn phòng chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND cấp huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn do mình phụ trách. Và, tại khoản 10, Điều 7 Nghị định 37/2014/NĐ-CP có quy định Văn phòng HĐND và UBND là cơ quan tham mưu tổng hợp cho HĐND về hoạt động của HĐND nhưng cũng không có quy định phải chịu trách nhiệm trước HĐND, Thường trực HĐND. Với quy định nêu trên liệu Văn phòng có làm tốt công tác tham mưu cho HĐND thực hiện chức năng giám sát chính cơ quan chủ quản của mình hay không?

  Không những vậy mà một điều nghịch lý khác cũng đang đặt ra câu hỏi cần sớm có lời giải đáp đó là: Theo khoản 4, Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”. Vì vậy, ngay sau khi Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 thì toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, bộ phận giúp việc cho HĐND, UBND cấp xã trước đây mặc nhiên hết hiệu lực và không còn giá trị pháp lý. Vậy phải chăng hoạt động của Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, bộ phận giúp việc cho HĐND, UBND cấp xã trong thời gian qua là “không có cơ sở pháp lý”? Thế nhưng nếu không áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật cũ thì các cơ quan này phải áp dụng văn bản pháp luật nào để thực thi công vụ, phục vụ Nhân dân trong khi Chính phủ vẫn “nợ” Nghị định? 

  Từ thực tế nêu trên cho thấy, Nghị định số 48/2016/NĐ-CP của Chính phủ ra đời mới giải quyết được một vấn đề đó là quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng HĐND cấp tỉnh, trong khi đó bộ máy và số lượng người hoạt động chuyên trách HĐND cấp huyện, xã tăng lên nhưng vẫn chưa có quy định cụ thể nào để có cơ sở pháp lý thực thi nhiệm vụ. Thiết nghĩ Chính phủ sớm có hướng dẫn chi tiết để các quy định của pháp luật sớm đi vào cuộc sống, bảo đảm cho bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện, xã vận hành một cách đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh và HĐND, UBND cấp huyện, xã trong nhiệm kỳ mới./. 

Mỹ Hạnh