[Đăng ngày: 18/04/2017]

  Chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng là quy định mới, trong hệ thống pháp luật về hôn nhân gia đình của nước ta từ Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1959, 1986 và 2000 không có quy định này. Đến nay, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) đã quy định:“Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”. Chế độ tài sản theo thỏa thuận theo đó được hiểu là các quy tắc do chính vợ chồng xây dựng trên cơ sở sự cho phép của pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng.

  1. Các nội dung thỏa thuận 

  Vợ chồng có thể thỏa thuận xác định tài sản theo các nội dung quy định tại Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (gọi tắt là Nghị định 126), cụ thể như sau:

  a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

  b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

  c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

  Ngoài các hình thức trên, vợ chồng có thể có thỏa thuận khác về việc xác định tài sản.

  *Lưu ý:

  - Thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

  - Chế độ tài sản theo thỏa thuận được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn.

  2. Các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận 

  Thỏa thuận giữa vợ chồng về chế độ tài sản về bản chất là một loại giao dịch. Với cách hiểu đó, thỏa thuận này cần tuân thủ những điều kiện nhất định để phát sinh hiệu lực. 

  Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên vô hiệu:

  a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sựvà các luật khác có liên quan:

  Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 thì các điều kiện đó là:

  - Chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.

  Ví dụ: vợ, chồng chưa đủ tuổi kết hôn ở thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm thỏa thuận là cơ sở để Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu.

  -Mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

  Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

  - Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

  Ví dụ: một bên bị lừa dối, bị đe dọa, bị cưỡng ép thực hiện thỏa thuận sẽ là cơ sở để Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu.Quy định về giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự.

  - Hình thức giao dịch:

  Văn bản thỏa thuận phải được công chứng, chứng thực theo quy định.

  b) Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình:

  Đó là các quy định về:

  - Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng (Điều 29).

  - Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 30).

  - Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng (Điều 31).

  - Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (Điều 32).

  Có thể lấy ví dụ nguyên tắc “vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên. Nguyên tắc này rất quan trọng trong việc đảm bảo duy trì các điều kiện hỗ trợ cho sự tồn tại của gia đình. Theo đó, nếu trong thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ và chồng có quy định cho rằng “trong thời kỳ hôn nhân chỉ có người chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập duy trì đời sống chung của gia đình” thì thỏa thuận đó sẽ vô hiệu.

  c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình

  Lý do này giúp bảo vệ các chủ thể có liên quan khỏi các nội dung tác động bất lợi đối với họ theo thỏa thuận của vợ chồng. Bởi lẽ, các thỏa thuận giữa vợ và chồng về chế độ tài sản có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan trong cấp dưỡng hoặc thừa kế.

  Về trường hợp này, Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hướng dẫn như sau:

  “Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật Hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định”.

  *Lưu ý:

  Trường hợp thỏa thuận bị Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng. Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

  3. Sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận

  - Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.

  Việc ghi nhận nội dung này thể hiện sự thông thoáng, hạn chế quy định cứng nhắc của pháp luật, tạo điều kiện để vợ, chồng có thể tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh tế vì lợi ích chung của gia đình.

  *Lưu ý:

  - Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận là thời điểm công chứng, chứng thực.

  - Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

  - Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan theo quy định tại Điều 16 của Nghị định 126, cụ thể:

  “Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

  Tham khảo:

  Bài viết “Áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận trong việc giải quyết việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ và chồng” (2016) của tác giả Đoàn Thị Phương Điệp trênDiễn đàn Thông tin pháp luật dân sự.

Văn Đức