[Đăng ngày: 05/08/2026]

Tại phiên thảo luận Tổ về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa đã đưa ra những phân tích sâu sắc từ thực tiễn điều hành và thực thi pháp luật để việc xây dựng Nghị quyết không chỉ đơn thuần là xử lý sai phạm mà còn phải là "chìa khóa" để giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc.

 

Thực tế sai phạm và yêu cầu cấp thiết về cơ chế tháo gỡ

 

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân cho rằng đây là Nghị quyết quy định một số cơ chế đặc thù, có nhiều nội dung khác với pháp luật hiện hành và tác động trực tiếp đến chính sách hình sự nên đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 theo hướng: "Nghị quyết chỉ áp dụng đối với các hành vi không có động cơ vụ lợi, không có hành vi tham nhũng, không nhằm che giấu tội phạm và không thuộc các nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe con người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Việc giới hạn rõ phạm vi áp dụng sẽ bảo đảm đúng mục tiêu của Nghị quyết là khuyến khích đổi mới, sáng tạo nhưng không tạo ra khoảng trống pháp lý để hợp thức hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng.

 

 
Bà Nguyễn Thanh Ngân - Bác sĩ chuyên khoa cấp II ,

đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa phát biểu thảo luận

 

Đại biểu Bùi Mạnh Cường đề nghị làm rõ hơn khái niệm “lợi ích chung” khi có sự đan xen lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước, địa phương, Nhân dân trong quá trình thực hiện dự án. Nếu doanh nghiệp có sai phạm vì lợi ích của doanh nghiệp nhưng đã khắc phục hậu quả, dự án vẫn hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thì vẫn nên cho áp dụng Nghị quyết này để dự án được đi vào hoạt động, khơi thông nguồn lực.

 

 
Ông Bùi Mạnh Cường - Tỉnh ủy viên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,

đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa phát biểu thảo luận

 

Không thể tách rời việc xử lý vi phạm với khắc phục hậu quả

 

Góp ý về nguyên tắc tách bạch giữa xử lý trách nhiệm cá nhân và giải pháp tháo gỡ khó khăn, đại biểu Bùi Mạnh Cường bày tỏ quan điểm không đồng tình với việc tách rời hoàn toàn hai nội dung này. Đại biểu phân tích, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết là: “Khắc phục toàn bộ có thể được miễn, khắc phục một phần thì được giảm nhẹ”. Nếu tách bạch ra, cơ quan chức năng sẽ không có căn cứ để định lượng mức độ xử lý. Do đó, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải dựa trên kết quả thực hiện phương án khắc phục hậu quả thực tế. Bên cạnh đó, tại Khoản 5 Điều 3,  đại biểu Bùi Mạnh Cường cho rằng việc quy định "trừ các trường hợp áp dụng có lợi tại Điều 10, Điều 11" là không cần thiết và dễ gây hiểu nhầm cho các cơ quan tiến hành tố tụng về việc phải xem xét lại bản án theo trình tự tái thẩm.

 

Về quy định không truy cứu trách nhiệm hình sự, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân cho rằng đây là nội dung cốt lõi của Nghị quyết, đồng thời cũng là nội dung có ảnh hưởng lớn nhất đến thực tiễn áp dụng pháp luật. Để Nghị quyết đạt mục đích bảo đảm quyền khiếu nại của công dân, vừa tránh để việc khiếu nại kéo dài làm cản trở việc áp dụng chính sách, đại biểu kiến nghị cần quy định theo hướng: "Không có khiếu nại, tố cáo có căn cứ hoặc các khiếu nại, tố cáo không làm thay đổi bản chất của vụ việc", bởi vì nhiều dự án đầu tư lớn thường phát sinh đơn thư kéo dài nhiều năm. Nếu chờ giải quyết dứt điểm toàn bộ khiếu nại, tố cáo thì nhiều trường hợp sẽ không thể áp dụng chính sách của Nghị quyết. Đồng thời, đối với điều kiện "đã khắc phục toàn bộ hậu quả" là quy định cứng nhắc vì thực tế nhiều dự án có giá trị rất lớn, mặc dù tổ chức, cá nhân có thiện chí khắc phục nhưng không thể hoàn thành ngay toàn bộ nghĩa vụ tài chính. Đại biểu đề nghị điều chỉnh theo hướng "Đã khắc phục toàn bộ hoặc phần lớn hậu quả thiệt hại và có phương án khắc phục khả thi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận". Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc thu hồi tài sản, khắc phục hậu quả, phù hợp với chủ trương ưu tiên xử lý hậu quả kinh tế trước khi áp dụng các biện pháp hình sự.

 

Không làm thu hẹp phạm vi bảo vệ về rủi ro trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

 

Đối với quy định về rủi ro trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Điều 6 dự thảo Nghị quyết, đại biểu Bùi Mạnh Cường lưu ý Điều 25 Bộ luật Hình sự 2015 vốn có phạm vi bảo vệ rộng hơn đối với các rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm. Việc thiết kế Điều 6 trong dự thảo Nghị quyết nếu không khéo sẽ vô tình thu hẹp phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự so với luật hiện hành.

 

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân cũng cho rằng quy định tại Điều 6 dự thảo Nghị quyết là cần thiết để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nội dung này cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm thống nhất với Bộ luật Hình sự và phù hợp với thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ. Cần phân định rõ giữa hoạt động nghiên cứu trong điều kiện đã có quy trình kỹ thuật với hoạt động thử nghiệm công nghệ mới theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Đối với hoạt động thử nghiệm các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, blockchain hoặc các mô hình đổi mới sáng tạo chưa có quy trình pháp lý đầy đủ, việc yêu cầu tuyệt đối phải "tuân thủ đúng quy trình, quy phạm" là không phù hợp với bản chất của hoạt động thử nghiệm. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định theo hướng: Trường hợp pháp luật đã có quy trình, quy phạm thì phải tuân thủ đầy đủ quy định hiện hành; Trường hợp thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự là việc tuân thủ đúng đề án, kế hoạch hoặc quy chế thử nghiệm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời bảo đảm trung thực, minh bạch và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa rủi ro.

 

Tăng cường cơ chế giám sát thực hiện Nghị quyết

 

Về cơ chế giám sát thực hiện Nghị quyết, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân đề nghị bổ sung một điều riêng về giám sát và tổng kết thực hiện Nghị quyết và bổ sung thêm nguyên tắc: "Việc áp dụng các cơ chế của Nghị quyết phải chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm công khai, minh bạch, phòng ngừa việc lợi dụng chính sách để bao che vi phạm" để tạo nên cơ chế kiểm soát quyền lực cần thiết đối với một Nghị quyết có nhiều chính sách khoan hồng, nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và củng cố niềm tin của Nhân dân. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng các cơ chế đặc thù nhằm bảo đảm mọi quyết định đều có căn cứ pháp lý rõ ràng, có thể kiểm tra, giám sát và tránh tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương để đảm bảo quy định đầy đủ, đảm bảo trách nhiệm giám sát việc áp dụng các cơ chế đặc thù hiệu quả.

 

Đại biểu Bùi Mạnh Cường nhất trí với việc cần có cơ chế giám sát thực hiện, đồng thời kiến nghị cần có quy định ấn định thời hạn cụ thể buộc chủ đầu tư/doanh nghiệp phải trình phương án khắc phục hậu quả và ấn định thời gian thẩm định của các cơ quan nhà nước để chấm dứt tình trạng "chây ỳ" vì thực tiễn có tình trạng nhiều doanh nghiệp, chủ đầu tư dù được đôn đốc nhiều lần vẫn không chủ động xây dựng phương án khắc phục hậu quả để Nghị quyết phát huy hiệu lực trong 3 năm thí điểm. "Chúng ta cần tránh tình trạng dự án chờ đến gần hết 3 năm thí điểm mới trình phương án, rồi lại kéo dài thêm thời gian xử lý, khiến mục tiêu tháo gỡ nguồn lực của Nghị quyết không đạt được như kỳ vọng", đại biểu Cường nhấn mạnh./.

Thúy Sương

 
Các tin khác