Di tích Am Chúa (xã Diên Điền, huyện Diên Khánh) nằm giữa lưng chừng núi Đại An (còn gọi là núi Dưa), bốn bề là cánh đồng lúa bao la xanh tốt, xa xa làng xóm đông vui, tấp nập, vinh dự được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1999.
Am Chúa chính thức xây dựng từ năm nào không rõ, trải qua nhiều lần trùng tu, hiện vẫn là nơi thờ phụng thánh mẫu Thiên Y A Na rất trang nghiêm.
Lễ hội Thiên Y A Na hàng năm được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, ngày mà theo truyền thuyết, Mẫu Thiên Y A Na giáng trần.
Lễ hội khai mạc vào sáng ngày 28/3/2017 (nhằm ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch). Hòa cùng không khí tươi vui, phấn khởi của người dân địa phương, đến dự khai mạc có Lãnh đạo các Sở, ban, ngành của tỉnh, Lãnh đạo huyện, xã, hơn 200 đoàn khách hành hương và đông đảo du khách thập phương.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Lễ hội Thiên Y A Na giờ đây trở thành một trong những lễ hội lớn của huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhân dân ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh tề tựu về đây để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhà nhà yên vui, lòng dân yên thuận. Hình tượng Thiên Y A Na là sản phẩm kết hợp giữa 2 nền văn hóa Việt và Chăm, thể hiện vai trò của bà mẹ xứ sở trong việc tạo ra muôn loài. Ngày hội Thiên Y A Na đã trở thành ngày hội theo tín ngưỡng của dân gian, mọi người đến với Lễ Mẫu trên tinh thần tự nguyện, hướng thiện, cầu đức, cầu tài. Lễ hội năm nay tổ chức vào dịp cán bộ và Nhân dân Diên Khánh chào mừng 42 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng bộ huyện Diên Khánh và cũng là dịp kỷ niệm ngày Quốc tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch, là quãng thời gian mà khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc đều hướng về cội nguồn dân tộc.
Nghi thức truyền thống của Lễ hội
Về lịch sử của Thiên Y A Na, tấm bia lớn trước sân khu di tích Am Chúa khắc ghi bút ký của Thượng thư Bộ Lễ Phan Thanh Giản - đề ngày 20 tháng 5 năm Tự Đức thứ IX-1858, rằng “xưa có 2 vợ chồng người tiều phu nghèo lên núi Đại An dựng nhà, vỡ đất trồng dưa. Dưa chín thường hay bị mất. Một hôm ông tiều bắt gặp một bé gái trạc 10 tuổi hái dưa rồi đùa giỡn dưới trăng. Thấy bé gái dễ thương, hai ông bà vốn không có con nên đón về nuôi và thương yêu như con ruột. Một hôm, trời mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều, buồn bã, thiếu nữ lấy đá chất thành ba hòn giả sơn và hái hoa lá cắm vào rồi đứng ngắm làm vui. Cho rằng hành vi của con không hợp với khuê tắc, ông Tiều nặng tiếng rày la, không ngờ đó là một tiên nữ, nàng bèn biến thân vào khúc kỳ nam, để mặc cho sóng gió đưa đẩy. Khúc kỳ nam trôi ra biển cả rồi tấp vào đất Trung Hoa, mùi hương bay ngào ngạt, nhân dân địa phương lấy làm lạ, rủ đến xem, thấy gỗ tốt xúm nhau khiêng nhưng người đông bao nhiêu cũng không đỡ nổi.
Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn, tìm đến xem hư thực, thấy khúc gỗ lớn lắm, Thải tử bèn lấy tay nhấc thử, chàng hết sức lạ lùng vì khúc gỗ nhẹ như tờ giấy, bèn đem về cung trân trọng như bảo vật.
Một đêm, dưới bóng trăng mờ, Thái tử thấy có bóng người thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam, nhưng lại gần xem thì tứ bề vắng vẻ, bên mình chỉ phảng phất mùi hương thanh thanh từ trong khúc kỳ nam bay ra, chàng quyết rình xem mấy đêm liền không hề thấy khác lạ, chàng không nản chí, rồi một hôm, đêm vào quá nửa, bốn bề im phăng phắc, một giai nhân tuyệt sắc theo ngọn gió hương ngào ngạt từ trong khúc kỳ nam bước ra. Thái tử vụt chạy đến, ôm choàng. Không kịp biến, giai nhân đành theo Thái tử về cung và cho biết rõ lai lịch, giai nhân tự xưng là Thiên Y A Na.
Thái tử vốn đã trưởng thành nhưng chưa có lứa đôi vì chưa chọn được người ưng ý. Nay thấy A Na xinh đẹp khác thường bèn tâu với phụ hoàng xin cưới làm vợ. Nhà Vua sai bói Cát Hung trúng quẻ Đại Cát, liền cử hành lễ thành hôn.
Vợ chồng ăn ở với nhau rất tương đắc và sanh hạ được hai con: một trai, một gái. Trai tên Tri, gái tên Quý, dung mạo khôi ngô. Thời gian trôi qua êm ấm nhưng một hôm lòng quê thúc dục, Thiên Y bồng hai con nhập vào kỳ nam trở về làng cũ.
Núi Đại An còn đó nhưng vợ chồng ông Tiều đã về cõi âm. Thiên Y bèn xây đắp mồ mả cha mẹ nuôi và sửa sang nhà cửa để phụng tự. Thấy dân địa phương còn thấp kém, Bà đem văn minh Trung Hoa ra giáo hóa, dạy cày cấy, dạy kéo vải, dệt sợi và đặt ra lễ nghi,…Từ đấy, ruộng nương được mở rộng, đời sống của người dân mỗi ngày thêm phúc túc, phong lưu.
Công khai hóa của Bà, chẳng những ở trong địa phương mà các vùng lân cận cũng được nhờ. Rồi một năm, vào ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, một con chim hạc từ trên mây bay xuống, Bà cùng hai con lên lưng hạc bay về Tiên.
Nhân dân địa phương nhớ ơn đức, xây tháp, tạc tượng vào năm 817 để phụng thờ, và mỗi năm vào ngày Bà thăng thiên: 24 tháng 4 âm lịch, tổ chức lễ múa bóng dâng hoa rất long trọng.
Ở Bắc Hải, Thải tử trông đợi lâu ngày không thấy vợ con trở về, bèn sai một đạo binh dong thuyền sang Đại An tìm kiếm. Khi đến nơi, thì Bà đã trở về Bồng Đảo. Người Bắc Hải ỷ đông hà hiếp dân địa phương, ngờ rằng dân địa phương nói dối, bèn hành hung không giữ lễ, xúc phạm thần tượng. Nhân dân địa phương bèn thắp nhang khấn vái, liền đó gió nổi, đá bay, đánh đắm thuyền của Thái tử Bắc Hải,…”.
Dù chỉ là truyền thuyết nhưng khu di tích Am Chúa và 2 ngôi mộ của vợ chồng ông Tiều vẫn còn hiện hữu, ngày ngày nghi ngút khói hương của du khách và Nhân dân địa phương như vẫn thầm nhắc thế hệ hôm nay và mai sau về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam./.
Kim Nhạn