Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ 01/01/2017) thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có những thay đổi đáng lưu ý về thời hiệu đang được áp dụng trong quy trình giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Trong phạm vi bài viết, tác giả nêu một số nội dung về thời hiệu và có một số đề xuất như sau:
1. Quy định khái niệm về thời hiệu theo Bộ luật Dân sự 2005 và 2015
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
“Điều 154. Thời hiệu
Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự.”
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 149. Thời hiệu
1. Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.”
Có thể nhận thấy, Bộ luật Dân sự 2005 quy định thời hiệu theo hướng liệt kê các loại thời hiệu, đó là: thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Trong khi đó Bộ luật Dân sự 2015 diễn đạt khái quát hơn, đó là khi kết thúc thời hiệu “thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”. Việc liệt kê các loại thời hiệu được quy định cụ thể tại Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 trên tinh thần giữ nguyên các loại thời hiệu như Bộ luật Dân sự 2005.
Đáng lưu ý, có sự thay đổi từ “thời hạn do pháp luật quy định” (theo Điều 154 Bộ luật Dân sự 2005) thành “thời hạn do luật quy định” theo (Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015). Sự thay đổi này là cần thiết vì thời hiệu là một trong những chế định có mặt trong các ngành luật dân sự, hình sự, hành chính, lao động, kinh doanh… nên thời hiệu chỉ có thể do “luật” quy định là chính xác và phù hợp hơn là “pháp luật”.
2. Điểm mới trong quy định về thời hiệu của Bộ luật Dân sự 2015
Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung một quy định mới tại khoản 2 Điều 149 đó là:
“Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.”
Quy định này có 03 điểm đáng lưu ý:
*Một là, Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu
Theo quy định trên, trong trường hợp một bên hoặc các bên không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án không được tự mình viện dẫn quy định về thời hiệu để áp dụng.
Trong thực tiễn xét xử, thường xuyên gặp trường hợp đương sự không đề cập đến việc hết thời hiệu nhưng cơ quan tố tụng tự viện dẫn quy định về thời hiệu để từ chối giải quyết hay để hủy kết quả xét xử trước đó. Chẳng hạn, tranh chấp về bồi thường thiệt hại đã được tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và các bên liên quan không đề cập tới việc hết thời hiệu nhưng đến cấp phúc thẩm hay giám đốc thẩm thì Viện trưởng VKSND hay Chánh án TAND cấp trên kháng nghị hủy án sơ thẩm với lý do hết thời hiệu.
Thực trạng đó thể hiện sự can thiệp quá sâu của cơ quan tố tụng vào các vấn đề dân sự và cũng cho thấy thực tiễn pháp luật Việt Nam khác với nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Điều 2223 Bộ luật Dân sự Pháp quy định thẩm phán không thể tự viện dẫn việc hết thời hiệu khởi kiện. Pháp luật của một số nước cũng có quy định tương tự (Bỉ, Lúc-xăm-bua, Ý, Tây Ban Nha).
Ở một số nước, trong đó có Pháp, Tòa án cấp cao hơn sẽ hủy bản án sơ thẩm hay phúc thẩm nếu thẩm phán tự mình viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên trong hợp đồng do hết thời hiệu trong khi không được bên kia của hợp đồng yêu cầu.
Điều 10.9, khoản 1 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (General Principle of Commercial Contracts), được nhiều nước thừa nhận rộng rãi cũng có quy định “việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ”.
Như vậy, nhiều nước trên thế giới thừa nhận việc hết thời hiệu không có hiệu lực tự động mà nó chỉ có hiệu lực khi một bên viện dẫn điều đó như một biện pháp tự vệ. Theo đó, cơ quan tố tụng không được tự viện dẫn việc hết thời hiệu để từ chối quyền yêu cầu của một bên trong hợp đồng nếu không được bên kia yêu cầu. Và suy cho cùng, việc viện dẫn thời hiệu khởi kiện chỉ là phương pháp phòng vệ của các bên tranh chấp, Tòa án không nên làm thay đương sự những việc mà đương sự không yêu cầu.
Trước đây, có quan điểm cho rằng việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn một bên mất quyền khởi kiện vì đã hết thời hiệu khởi kiện khi không được bên kia trong hợp đồng yêu cầu là đi ngược lại với tinh thần của nguyên tắc tự do quyết định, định đoạt của đương sự. Vì vậy, điểm a, khoản 1, Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) trước đây quy định cho phép tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết là không hợp lý.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hiện hành đã không còn quy định này nữa và tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đã quy định:
“Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện.”
Đồng thời, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cũng quy định:
“Điều 517. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, trừ các quy định sau đây của Bộ luật này có liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017:
c) Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;”
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2017, Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu.
*Hai là, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối việc áp dụng thời hiệu
Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Quy định này nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” được quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ví dụ: Ông A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà B, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, thời hiệu khởi kiện 03 năm đã hết mà ông A vẫn chưa bồi thường cho bà B.
Nay, bà B có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và ông A (người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu) có văn bản từ chối áp dụng thời hiệu. Trong trường hợp này, Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết theo quy định.
*Ba là, đương sự chỉ có quyền viện dẫn việc áp dụng thời hiệu ở giai đoạn sơ thẩm
Bộ luật Dân sự 2015 chỉ cho phép đương sự viện dẫn quy định về thời hiệu ở giai đoạn sơ thẩm, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc, vì vậy nếu đương sự không yêu cầu áp dụng các quy định về thời hiệu ở cấp sơ thẩm thì không được viện dẫn việc hết thời hiệu ở cấp phúc thẩm hay giám đốc thẩm.
Quy định này nhằm tránh tình trạng đương sự biết hết thời hiệu nhưng không viện dẫn ở cấp sơ thẩm, mà chờ nếu bị Tòa án tuyên thua kiện mới viện dẫn hết thời hiệu để làm căn cứ yêu cầu hủy kết quả xét xử và yêu cầu phúc thẩm, giám đốc thẩm (nếu có).
Tuy nhiên, quy định này đang đặt ra một vấn đề khác. Giả sử đối với một vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện, đương sự không được biết về quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu do đó đã không yêu cầu áp dụng thời hiệu. Khi đó, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đến khi hết thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm (khoảng từ 04 đến 06 tháng).
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đương sự được biết về quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu và yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu để đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015:
“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”.
Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, thời gian tố tụng kéo dài, phải trải qua nhiều thủ tục tố tụng tốn kém như đã đo đạc, vẽ lược đồ, thẩm định, định giá, thu thập chứng cứ, xác minh, ủy thác tư pháp… Các chi phí, lệ phí do đương sự đã tạm ứng khi Tòa án đình chỉ sẽ giải quyết như thế nào? Khi đó, các đương sự bị ảnh hưởng từ việc Tòa án đình chỉ do áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của đương sự khác sẽ khiếu nại và yêu cầu Tòa án giải thích pháp luật.
Như vậy, việc quy định đương sự được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu ở thời đểm trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định sẽ dẫn đến nhiều vướng mắc, bất cập.
Tác giả cho rằng, khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần phải được sửa đổi theo hướng:
“Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất”.
Bởi lẽ theo quy định tại Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề như: việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; bổ sung tài liệu, chứng cứ và những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
Vì vậy, nếu quy định theo hướng: tại phiên họp này, nếu đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì sau này không được đưa ra yêu cầu này nữa sẽ giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
*Trách nhiệm phổ biến cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu nếu biết thời hiệu khởi kiện đã hết:
Về vấn đề này: có quan điểm cho rằng Thẩm phán có trách nhiệm trong việc phổ biến quyền này và giải thích hậu quả pháp lý cho đương sự; có quan điểm lại cho rằng Thẩm phán không phải phổ biến và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Từ sự không thống nhất về quan điểm đó, có thể dẫn đến trường hợp có những vụ án có tính chất tương tự nhau, thời hiệu khởi kiện đã hết như nhau, nhưng cùng một Tòa án, các Thẩm phán lại có nhiều cách giải quyết vụ án khác nhau, hoặc là đình chỉ (do đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu) hoặc là tiếp tục giải quyết và tuyên án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ: trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán “phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”
Đồng thời, điểm a khoản 4 Điều 210 cũng đã quy định:
“4. Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;”
Như vậy phải khẳng định rằng, Thẩm phán có trách nhiệm phải phổ biến cho đương sự biết quyền được yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu. Vì thế, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn để việc áp dụng pháp luật về thời hiệu trong việc giải quyết các vụ án tại Tòa án được thống nhất, đảm bảo được lòng tin của Nhân dân đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp./.
Nguồn tham khảo:
1. Bài viết “Tìm hiểu quy định về "Thời hiệu" trong Bộ luật dân sự 2015” của tác giả Lê Phước Ngưỡng trên Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (http://vkshue.gov.vn/nghiepvu/tim-hieu-quy-dinh-ve-thoi-hieu-trong-bo-luat-dan-su-2015-976.html).