Vừa qua, Ban Kinh tế - Ngân sách đã tiến hành giám sát chuyên đề về tình hình đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Cộng tác viên Trang thông tin điện tử Đại biểu Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Ngô, Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
CTV: Xin ông cho biết những đánh giá về việc triển khai thực hiện các văn bản pháp quy về đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua?
Ông Nguyễn Ngô:
Trong thời gian qua, Trung ương đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch. Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh là một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVII và Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016 - 2020. UBND tỉnh đã ban hành và trình HĐND tỉnh ban hành khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch, phân cấp đầu tư, phân cấp quản lý, phân cấp thẩm quyền, hỗ trợ đầu tư, giá nước,…để tổ chức triển khai thực hiện phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đã giải quyết cơ bản nhu cầu sử dụng nước sạch ở nông thôn, tạo được niềm tin trong Nhân dân. Công tác phân công, phân cấp và sự phối hợp thực hiện giữa các cơ quan, các cấp chính quyền địa phương, doanh nghiệp trong đầu tư, hỗ trợ đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch được xác định rõ ràng.
Ông Nguyễn Ngô, Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh
CTV: Trong thời gian qua, tình hình đầu tư các công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh như thế nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Ngô:
Trong năm 2013, Ban Kinh tế - Ngân sách đã tiến hành giám sát chuyên đề về việc thực hiện Chương trình nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Qua giám sát, Ban đã có nhiều kiến nghị cụ thể về nguồn vốn đầu tư, phân cấp quản lý, giá nước, hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp vay vốn để đầu tư các công trình nước sạch nông thôn. Nhìn chung, các kiến nghị trong chuyên đề giám sát năm 2013 đã được UBND tỉnh tiếp thu và chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện tốt giai đoạn sau.
Đầu tháng 4/2017 vừa qua, Ban đã tổ chức giám sát chuyên đề này. Trong giai đoạn 2014 - 2016, trên địa bàn tỉnh có 20 công trình nước sạch được ngân sách hỗ trợ vốn đầu tư hoặc hỗ trợ lãi suất vay với tổng mức đầu tư các công trình là 372 tỷ đồng. Chủ trương của tỉnh từ năm 2014 đến nay là đầu tư mới các công trình cấp nước tập trung. Tuy nhiên, tại một số khu vực miền núi, địa bàn rộng, dân cư ít nên rất khó đầu tư hệ thống cấp nước tập trung. Qua giám sát tại huyện Khánh Vĩnh, địa phương đã thực hiện đầu tư một số giếng khoan có hệ thống lắng lọc, sử dụng vòi nước tại chỗ với mô hình quản lý là cộng đồng tự quản, bước đầu mang lại hiệu quả nhất định. Ngoài việc hỗ trợ vốn, tỉnh Khánh Hòa cũng đã thực hiện chính sách cấp bù lãi suất đối với các dự án vay vốn tại Quỹ Đầu tư phát triển Khánh Hòa. Thông qua việc cấp bù lãi suất, các dự án nước sạch đã được đầu tư nhiều hơn, nhiều dự án mang tính chất cấp thiết và bức xúc của địa phương được vay vốn, giải quyết kịp thời nhu cầu nước sinh hoạt của người dân.
Nhìn chung, chính sách hỗ trợ vốn, hỗ trợ lãi suất cho chương trình nước sạch trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan. Đã giảm bớt áp lực cân đối ngân sách cho chương trình nước sạch, khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư và cung cấp dịch vụ nước cho Nhân dân; nâng dần số hộ sử dụng nước sạch, góp phần hoàn thành bộ tiêu chí nông thôn mới tại các xã. Giúp cho doanh nghiệp nâng cao công suất, thay đổi công nghệ bảo đảm nguồn và chất lượng nước; doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ cho người dân lắp đặt đồng hồ và đấu nối vào hệ thống nước. Bảo đảm hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của người dân.
Theo Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035, giai đoạn 2016 - 2020, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho cấp nước sạch nông thôn là 477 tỷ đồng (bao gồm vốn ngân sách, vốn doanh nghiệp và vốn Nhân dân đóng góp) để đầu tư 25 công trình cấp nước tập trung và 14 công trình đấu nối. Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư công của tỉnh gặp nhiều khó khăn nên Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh đã được phê duyệt tại Nghị quyết số 37/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 của HĐND tỉnh, ngoài 8 công trình chuyển tiếp, chỉ thực hiện đầu tư mới 17 công trình nước sạch nông thôn tại các địa phương với tổng mức đầu tư dự kiến 156 tỷ đồng, so với nhu cầu vốn giai đoạn 2017 - 2020 chỉ đáp ứng được 33%. Trong thời gian đến cần thực hiện mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa đối với lĩnh vực này; hỗ trợ một phần vốn từ ngân sách cho doanh nghiệp, phần còn lại doanh nghiệp vay vốn có sự ưu đãi lãi suất.
CTV: Xin ông cho biết tình hình quản lý các công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh hiện như thế nào?
Ông Nguyễn Ngô:
Thực hiện Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 của Bộ Tài chính, qua kiến nghị của Ban trong chuyên đề giám sát năm 2013, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương thực hiện kiểm kê, đánh giá hiện trạng của toàn bộ các công trình nước sạch nông thôn tập trung trên địa bàn tỉnh. Tính đến ngày 10/3/2014, toàn tỉnh có 95 công trình cấp nước tập trung nông thôn, trong đó có 19 công trình hoạt động bền vững, 19 công trình hoạt động trung bình, 31 công trình hoạt động kém hiệu quả và 26 công trình không hoạt động. UBND tỉnh cũng đã ban hành các Quyết định để giao 69 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn còn đang hoạt động cho các đơn vị quản lý, sử dụng và khai thác; đối với 26 công trình đã ngừng hoạt động, tỉnh đã giao cho UBND cấp xã quản lý và xử lý thu hồi tài sản theo quy định. Nghị quyết số 13/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 của HĐND tỉnh đã quy định thẩm quyền quyết định thanh lý 26 công trình cấp nước sạch nói trên là của Chủ tịch UBND cấp huyện nhưng đến nay việc tổ chức thanh lý tài sản chưa tiến hành.
Sau khi UBND tỉnh ban hành các Quyết định giao các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn còn đang hoạt động cho các đơn vị quản lý, sử dụng và khai thác, các công trình nước tự chảy, hệ thống giếng khoan nối mạng nhỏ… hầu hết được giao cho UBND cấp xã quản lý và khai thác. Qua giám sát, Ban nhận thấy công tác quản lý và khai thác các công trình này còn nhiều khó khăn, tồn tại như: không đầu tư nâng cấp, cải tạo do thiếu kinh phí, vẫn duy trì nguồn nước tự chảy nên phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước không ổn định; mô hình quản lý thiếu chuyên nghiệp, không có trình độ chuyên môn về xử lý nước, năng lực quản lý chưa cao, một số xã đã có thành lập Ban quản lý công trình nước tại địa phương, các xã khác thì giao cho cán bộ làm công tác giao thông - thủy lợi kiêm nhiệm dẫn đến việc quản lý chưa hiệu quả; giá nước hiện chỉ tính theo mức đủ bù đắp các chi phí để vận hành như trả tiền điện, hóa chất,… nên thiếu kinh phí cho công tác duy tu sửa chữa, phụ cấp cho những người tham gia quản lý công trình nước dẫn đến công trình nhanh chóng xuống cấp, người quản lý thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình với công việc. Nhiều địa phương tại khu vực miền núi không thu tiền nước đối với các hộ dân dẫn đến người dân thiếu ý thức trong việc sử dụng nước, gây lãng phí nước, thiếu kinh phí sửa chữa khi công trình hư hỏng.
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm) được giao quản lý 03 công trình trên địa bàn huyện Diên Khánh; trong đó 2/3 công trình mới được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2015 với tổng công suất thiết kế 4.360m3/ngày đêm. Nhìn chung, Trung tâm đã quản lý và khai thác tốt các hệ thống cấp nước tập trung được giao, bảo đảm cấp nước sạch thường xuyên, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân, tỷ lệ nước thất thoát thấp. Tuy nhiên, qua giám sát, một số công trình do Trung tâm quản lý chỉ mới đầu tư hệ thống ống chính chạy dọc một bên theo đường giao thông chính của xã, chưa đầu tư hệ thống mạng nhánh nên còn nhiều hộ vẫn chưa sử dụng được nước. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập nên không vay được vốn phát triển mạng lưới cấp nước trong khi vốn ngân sách còn hạn chế. Mặt khác, việc không đưa chi phí lắp đặt đồng hồ nước vào giá nước và tính chi phí lắp đặt riêng nên chưa được sự đồng thuận của người dân.
Đối với công trình cấp nước sạch nông thôn được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, bàn giao cho các doanh nghiệp quản lý, khai thác và hoàn trả vốn hoặc công trình do doanh nghiệp đầu tư được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn đầu tư đã mang lại hiệu quả cao, cấp nước kịp thời cho các vùng nông thôn thiếu nước nhất là vào mùa khô hạn. Việc bàn giao, hỗ trợ vốn đầu tư gắn với cơ chế hoàn trả vốn cho ngân sách nhà nước làm cho doanh nghiệp cấp nước nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý, khai thác phát huy hiệu quả công trình sau đầu tư. Đối với các công trình được bàn giao cho doanh nghiệp quản lý và khai thác, các doanh nghiệp đều sử dụng nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay để đầu tư nâng cấp, mở rộng mạng lưới cấp nước, cải thiện công nghệ xử lý để nâng cao chất lượng nước, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện đang gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn để đầu tư nâng cấp nhà máy nước, mở rộng hệ thống cấp nước do tài sản của các doanh nghiệp gần như đã thế chấp vay cho các dự án đầu tư trước đây nên gần đây các doanh nghiệp không còn tài sản thế chấp. Việc hỗ trợ vốn đầu tư hoặc bàn giao các công trình do ngân sách đầu tư cho doanh nghiệp đều phải hoàn vốn cho ngân sách nhà nước. Đa số công trình cấp nước ở nông thôn, mật độ dân cư thưa thớt, chi phí đầu tư lớn, hộ gia đình sử dụng nước ít gây khó khăn cho doanh nghiệp.
CTV: Xin ông cho biết những giải pháp để phát huy hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến?
Ông Nguyễn Ngô:
Qua chuyên đề giám sát lần này, Ban Kinh tế - Ngân sách cũng đã kiến nghị UBND tỉnh nhiều giải pháp để phát huy hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác các công trình nước sạch như:
Thứ nhất, cần rà soát lại quy hoạch để điều chỉnh, bổ sung các dự án nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh; xác định quy mô đầu tư dự án và hình thức quản lý phù hợp. Nghiên cứu xây dựng quy hoạch cấp nước sạch riêng cho khu vực hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh; đối với một số nơi dân cư thưa thớt ở vùng miền núi có thể đầu tư giếng khoan, tự động bơm, có hệ thống lắng lọc, sử dụng vòi chung và giao cho nhóm cộng đồng tự quản; lựa chọn công nghệ tiên tiến để triển khai thí điểm cung cấp tại miền núi.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trả tiền sử dụng nước nhằm tạo nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng công trình và khắc phục lãng phí sử dụng nước. Cần có chính sách miễn giảm các đối tượng sử dụng nước và cấp bù ngân sách thực hiện chính sách miễn giảm.
Thứ ba, tổ chức thực hiện thanh lý 26 công trình nước sạch đã ngừng hoạt động theo Nghị quyết số 13/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 của HĐND tỉnh về việc phân cấp thẩm quyền điều chuyển, cho thuê quyền khai thác chuyển nhượng, thanh lý công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Thứ tư, nghiên cứu và thực hiện chuyển đổi Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thành đơn vị thực hiện cơ chế tài chính như doanh nghiệp theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2017 của Chính phủ về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm tạo điều kiện đơn vị được vay vốn phát triển mạng lưới cấp nước trong khi vốn ngân sách còn hạn chế. Đưa chi phí lắp đặt đồng hồ nước khi xây dựng giá nước đối với các công trình do Trung tâm quản lý để giảm bớt áp lực ban đầu cho người dân khi đăng ký lắp đặt, sử dụng nước.
Thứ năm, trong kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm nên ưu tiên giao cho doanh nghiệp làm chủ đầu tư (đối với phần vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp) để thuận lợi từ khâu lập hồ sơ, tổ chức thi công đến khi đưa công trình vào quản lý, khai thác và hoàn vốn cho ngân sách. Đồng thời, xem xét tính khấu hao nộp cho ngân sách theo sản lượng nước tiêu thụ đối với một số công trình tại các khu vực có mật độ dân cư thưa thớt, chi phí đầu tư lớn, hộ gia đình sử dụng nước ít để giảm bớt áp lực cho doanh nghiệp trong việc hoàn trả vốn ngân sách.
Xin cám ơn ông về cuộc trao đổi này!
Tấn Đại