Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 22/06/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 17 chương, 173 điều, thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ra đời có sự kế thừa và phát triển việc áp dụng thống nhất trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Cộng tác viên trang tin daibieunhandankhanhhoa.gov.vn đã có cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Lan Phương, Phó Trưởng ban Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh - một số nội dung về quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh theo của Luật năm 2015.
Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Phó Trưởng ban Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Câu hỏi thứ 1: Kể từ ngày 01/7/2016, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, vậy xin Bà cho biết quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 như thế nào?
Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo hai luật, đó là: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004. Với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004. Hiện nay cả 02 luật này đã được thay thế bởi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân được thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 kể từ ngày 01/7/2016.
Về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Chương VIII, gồm 16 điều (từ Điều 111 đến Điều 126). Theo đó, quy trình xây dựng, ban hành có thể bao gồm các bước cơ bản sau: (1) đề nghị xây dựng nghị quyết; (2) soạn thảo và lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết; (3) thẩm định, thẩm tra dự thảo nghị quyết; (4) trình, thông qua dự thảo và ký ban hành nghị quyết. Tóm tắt sơ lược từng bước như sau:
Bước 1. Đề nghị xây dựng nghị quyết từ Điều 111 đến Điều 117, gồm:
- Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp theo thẩm quyền đề xuất, gửi về Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.
- Đối với các nghị quyết quy định về chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành pháp luật; biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh; biện pháp có tính đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh phải thực hiện các quy trình như:
+ Tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến xây dựng nghị quyết; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính sách của dự thảo nghị quyết; tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan về đề nghị xây dựng nghị quyết; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý;…
+ Lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết và các cơ quan, tổ chức có liên quan;…
+ Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban nhân dân tỉnh trình;
+ Thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết;
+ Trình đề nghị xây dựng nghị quyết đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
Bước 2. Soạn thảo và lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết được quy định từ Điều 118 đến Điều 120, gồm:
- Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết, nếu chấp thuận thì phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết và quyết định thời hạn trình Hội đồng nhân dân tỉnh dự thảo nghị quyết; cơ quan, tổ chức trình phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.
- Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyết tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và các tài liệu liên quan; đăng tải các tài liệu này lên công thông tin điện tử của tỉnh.
Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử tỉnh trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.
Bước 3. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân tỉnh trình; thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh:
+ Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân tỉnh trình tại Điều 121:
Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh trình phải được Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân. Điều 121 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thẩm định; hồ sở gửi thẩm định; nội dung thẩm định và trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với ý kiến thẩm định.
+ Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh:
Quy định tại Điều 124 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, theo đó: Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân.
Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra để thẩm tra. Ban có trách nhiệm thẩm tra phải gửi báo cáo thẩm tra đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Bước 4. Thông qua dự thảo nghị quyết và ký ban hành quy đinh tại Điều 125, 126:
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện theo Điều 126 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Việc ký chứng thực nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh ký.
Câu hỏi 2: So với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có điểm gì mới không, thưa Bà?
Về quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nhìn chung vẫn bao gồm các bước như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, tuy nhiên Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định rõ ràng, cụ thể hơn.
Trong đó, điểm mới nhất so với Luật cũ là quy định về quy trình đề nghị xây dựng nghị quyết đối với các nghị quyết về lĩnh vực chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành pháp luật; biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh; biện pháp có tính đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh phải thực hiện các quy trình quy định từ Điều 122 đến Điều 116 như đã nêu ở phần trên.
Ngoài ra, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, còn có một số điểm mới:
- Quy định lại việc lấy ý kiến dự thảo nghị quyết tại Điều 120, theo đó: dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến; cơ quan chủ trì soạn thảo lấy ý kiến, trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản; cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.
- Bổ sung nhiều quy định về thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân tỉnh trình (Điều 121): Mở rộng thẩm quyền của của quan thẩm định (như: yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết. Đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định…). Thời gian để cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định chậm nhất là 20 ngày trước ngày UBND họp.
- Hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh cũng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn: Tờ trình về dự thảo nghị quyết; dự thảo nghị quyết; báo cáo thẩm định và giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết do UBND trình; ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo do Ban của HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình; bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có). Đồng thời, quy định rõ loại tài liệu gửi bằng bản giấy và tài liệu gửi bằng bản điện tử.v.v.v
Câu hỏi 3: Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật này như thế nào? Hội đồng nhân dân tỉnh có kế hoạch gì để triển khai hoạt động giám sát theo thẩm quyền ở lĩnh vực này không?
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định, Hội đồng nhân dân có thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trái với nghị quyết của mình, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 20/11/2015 cũng quy định: Hội đồng nhân dân xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiếp pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Đối với Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa, thời gian qua, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tự rà soát nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2015 và đang tiếp tục rà soát đối với các nghị quyết còn hiệu lực từ trước tháng 7/2011; và theo Chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2016, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ tiến hành giám sát chuyên đề việc thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp trong năm 2016.
Trong thời gian đến, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh chú trọng giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân cấp huyện./.
Trân trọng cảm ơn Bà!
Thanh Tình