Sáng ngày 20-8, tiếp tục Chương trình kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội tiến hành thảo luận ở hội trường về việc tích hợp 04 Chương trình mục tiêu quốc gia thành 01 Chương trình mục tiêu quốc gia.
Nội dung này đang được cử tri rất quan tâm vì hướng đến mục tiêu giải quyết tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực trong thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Để hiểu rõ hơn về những đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp lý quan trọng này, Cộng tác viên Trang Thông tin điện tử Đại biểu nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có cuộc trao đổi với bà Chamaléa Thị Thủy - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa.

ĐBQH Chamaléa Thị Thủy - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo phát biểu tại Hội trường
- Thưa đại biểu, đề xuất gộp 04 Chương trình mục tiêu quốc gia thành 01 Chương trình tổng thể đang nhận được sự quan tâm rất lớn của cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu đánh giá như thế nào về quyết sách này?
Tôi cơ bản tán thành với nội dung Tờ trình của Chính phủ và thống nhất cao với báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Tôi cho rằng, việc tích hợp 04 Chương trình mục tiêu quốc gia thành 01 Chương trình tổng thể là bước đi hết sức cần thiết và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Nhiều năm qua, cử tri, nhất là cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đã phản ánh rất nhiều về tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực giữa các chương trình riêng lẻ. Việc tích hợp này chính là câu trả lời kịp thời cho những trăn trở, kiến nghị kéo dài của bà con.
- Trong phát biểu tại nghị trường, đại biểu đã đặc biệt nhấn mạnh đến một "khoảng trống chính sách" liên quan đến nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương. Đại biểu có thể phân tích rõ hơn về điểm chưa đồng bộ này?
Tại khoản 6 Điều 1 của dự thảo, chúng ta thiết kế ba lớp nguyên tắc bổ trợ khá chặt chẽ: Điểm a xác định ưu tiên phân bổ mức cao nhất cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo (ưu tiên đến cấp xã, thôn chứ không phải cấp tỉnh); Điểm d quy định tiêu chí phân bổ gắn với mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn. Tuy nhiên, điểm c lại quy định ngân sách trung ương ưu tiên các địa phương nhận bổ sung cân đối từ 70% trở lên so với tổng chi cân đối địa phương; còn các địa phương tự cân đối ngân sách phải tự lo nguồn lực thực hiện. Ngưỡng 70% này thông thường được tính theo báo cáo cân đối ngân sách cấp tỉnh.
Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay (khi không còn cấp huyện làm tầng trung gian), khoảng chưa đồng bộ này rất đáng lo ngại. Nếu không làm rõ "địa bàn" tại điểm d, cơ quan soạn thảo khi xây dựng Nghị định có thể lựa chọn cách hiểu theo nghĩa hẹp là cấp tỉnh. Khi đó, các xã đặc biệt khó khăn nằm trong một tỉnh có khả năng tự cân đối ngân sách tốt sẽ bị "hòa lẫn" vào bức tranh chung của tỉnh và không được thụ hưởng đúng mức ưu tiên.
Vì vậy, tôi đề nghị ban soạn thảo cần bổ sung, làm rõ ngay tại điểm d khoản 6 Điều 1 cụm từ: "mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn, trong đó địa bàn được xác định đến cấp xã, phường, đặc khu". Việc cụ thể hóa này giúp Chính phủ có căn cứ pháp lý rõ ràng khi quy định chi tiết tại Nghị định, đồng thời thống nhất với tinh thần theo dõi, báo cáo riêng kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở cấp xã được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2.
- Khánh Hòa là địa bàn có cả vùng hải đảo, biên giới trên biển và đơn vị hành chính đặc thù. Từ góc nhìn địa phương, đại biểu nhận thấy cơ chế chăm sóc sức khỏe cho người dân ở những nơi này cần được hoàn thiện như thế nào?
Tôi đánh giá rất cao việc dự thảo xác định "biên giới, hải đảo" là địa bàn ưu tiên xuyên suốt. Tuy nhiên, tại điểm d khoản 7 Điều 1 về nhiệm vụ trọng tâm chăm sóc sức khỏe, nội dung hiện tại mới chỉ tập trung vào "đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo bác sĩ chuyên khoa" một cách chung chung.
Điều này chưa thể hiện được tính đặc thù của mô hình quân dân y kết hợp tại các xã đặc khu, nơi người dân sinh sống xen kẽ với lực lượng vũ trang và có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hoàn toàn khác biệt so với đất liền. Do đó, tôi đề nghị bổ sung cụm từ thể hiện rõ ưu tiên cho mô hình quân dân y kết hợp ngay tại điểm d khoản 7 Điều 1 để Chính phủ có căn cứ pháp lý riêng khi quy định chi tiết, không phải áp dụng theo cơ chế chung của địa bàn đất liền.
- Bên cạnh y tế và kinh tế, việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số tại chỗ cũng là nội dung được đại biểu quan tâm. Đại biểu đã đề xuất như thế nào để công tác này thực sự đi vào chiều sâu và phát huy vai trò chủ thể của người dân?
Về văn hóa, dự thảo đặt mục tiêu tu bổ 95% di tích quốc gia đặc biệt đến năm 2030 và 100% đến năm 2035. Tôi đề nghị Chính phủ khi ban hành danh mục chi tiết cần quan tâm bố trí đúng mức cho di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở từng vùng, miền, bao gồm cả những di sản có quy mô nhỏ, phân tán, không chỉ tập trung vào các di tích quy mô lớn.
Về phân cấp, dự thảo đang quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh "quyết định hoặc phân cấp" cho Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định phân bổ chi tiết. Với các nội dung mang tính đặc thù cộng đồng cao như lập danh sách nghệ nhân, người thực hành di sản văn hóa phi vật thể, tôi đề xuất cần quy định trách nhiệm tham gia đề xuất của cấp xã là bắt buộc, không nên để ở dạng tùy nghi. Trong mô hình 2 cấp, chính quyền xã là cấp nắm rõ nhất, kịp thời nhất ai thực sự là nghệ nhân, ai đang thực hành di sản tại cộng đồng. Quy định bắt buộc này cũng hoàn toàn phù hợp với định hướng phân cấp cho cấp xã nhằm phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng.
- Một vấn đề thực tế khác là tỷ lệ đối ứng ngân sách địa phương. Theo đại biểu, quy định hiện tại trong dự thảo có điểm nào cần điều chỉnh linh hoạt hơn để tránh gây áp lực lên cấp cơ sở?
Việc dự thảo phân chia tỷ lệ đối ứng chi tiết theo 5 bậc là điểm rất đáng ghi nhận, thể hiện sự cầu thị và sát thực tiễn của Chính phủ. Tuy nhiên, tỷ lệ đối ứng này vẫn đang được xác định hoàn toàn dựa trên khả năng cân đối ngân sách của cấp tỉnh.
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, một số tỉnh tuy có khả năng tự cân đối ngân sách chung khá tốt, nhưng các xã khó khăn trong tỉnh vẫn được xác định là đối tượng ưu tiên thụ hưởng. Nếu áp mức đối ứng của nhóm tỉnh tự cân đối chung lên các xã này, mức đối ứng sẽ vượt quá khả năng thực tế của chính quyền cấp xã – nơi trực tiếp triển khai dự án nhưng nguồn thu tại chỗ còn rất hạn chế. Do đó, tôi đề nghị bổ sung quy định cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh linh hoạt phân bổ tỷ lệ đối ứng khác nhau giữa các xã trong nội bộ tỉnh, thay vì áp dụng một tỷ lệ đối ứng thống nhất cho toàn tỉnh.
Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!
THÚY SƯƠNG (Thực hiện)