Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, Quốc hội sẽ cho ý kiến lần đầu dự án Luật Cảnh sát cơ động. Trang tin điện tử Đại biểu Nhân dân Khánh Hòa đã có bài phỏng vấn Trung tướng Trần Ngọc Khánh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng- An ninh của Quốc hội về dự án Luật Cảnh sát cơ động.

Trung tướng Trần Ngọc Khánh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh của Quốc hội,
ĐBQH đơn vị tỉnh Khánh Hòa
1. Xin đồng chí Trung tướng cho biết sự cần thiết ban hành Luật Cảnh sát cơ động ?
Pháp lệnh Cảnh sát cơ động được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 23/12/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7 /2014. Sau 07 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh, Cảnh sát cơ động đã phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt thực hiện biện pháp vũ trang bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là triển khai đồng bộ các biện pháp, phương án, kế hoạch công tác, tổ chức lực lượng ra quân xử lý kịp thời, có hiệu quả các hoạt động gây phương hại đến an ninh trật tự, bạo loạn, biểu tình bất hợp pháp; trấn áp đối tượng có hành vi phạm tội nguy hiểm, đấu tranh triệt phá các chuyên án, các băng, ổ nhóm tội phạm có tổ chức; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, hội nghị, sự kiện chính trị quan trọng, góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và đối ngoại của đất nước.
Tuy nhiên, trước sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự thay đổi, điều chỉnh của hệ thống pháp luật, diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với Cảnh sát cơ động ngày càng nặng nề hơn. Bên cạnh đó, Pháp lệnh đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần khắc phục để phù hợp với quy định của Hiến pháp và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Do vậy, việc xây dựng dự án luật Cảnh sát cơ động là cần thiết.
Để thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, “ưu tiên hiện đại hóa một số lực lượng”, trong đó có lực lượng Cảnh sát cơ động, Chính phủ đã có Tờ trình Quốc hội về Luật Cảnh sát cơ động.
Việc ban hành Luật nhằm cụ thể hóa nội dung về quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013; khắc phục những hạn chế, bất cập sau 07 năm thực hiện Pháp lệnh Cảnh sát cơ động, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ góp phần xây dựng Cảnh sát cơ động cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.
Cảnh sát cơ động là lực lượng vũ trang chiến đấu tập trung, sử dụng biện pháp vũ trang là chủ yếu; được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật đặc chủng, hiện đại; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thường xuyên tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân (như sử dụng biện pháp vũ trang để đấu tranh chống khủng bố, giải cứu con tin, trấn áp, giải quyết các vụ bạo loạn, biểu tình, tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự…); việc huấn luyện và thực thi nhiệm vụ trong điều kiện, hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải có trình độ, năng lực, bản lĩnh và kỹ năng cao.
Do đó, việc xây dựng Luật Cảnh sát cơ động là rất cần thiết, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho Cảnh sát cơ động thực hiện tốt nhiệm vụ theo yêu cầu của thực tiễn đặt ra, bảo đảm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là quyền con người, quyền công dân.

Trung tướng Trần Ngọc Khánh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh
của Quốc hội phát biểu tại phiên thảo luận Tổ
2. Xin đồng chí cho biết những nội dung cơ bản của Luật cảnh sát cơ động?
Dự thảo Luật gồm 05 chương, 31 điều được bố cục như sau: Chương I. Quy định chung, gồm: 08 điều (từ Điều 1 đến Điều 8); Chương II. Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cảnh sát cơ động, gồm: 11 điều (từ Điều 9 đến Điều 19); Chương III. Bảo đảm hoạt động và chế độ, chính sách đối với Cảnh sát cơ động, gồm: 06 điều (từ Điều 20 đến Điều 25); Chương IV. Quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với Cảnh sát cơ động, gồm: 05 điều (từ Điều 26 đến Điều 30); Chương V. Điều khoản thi hành gồm 01 điều (Điều 31). Nội dung cơ bản như sau:
Chương I (Quy định chung): Quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; vị trí, chức năng; nguyên tắc hoạt động; xây dựng Cảnh sát cơ động; ngày truyền thống; hợp tác quốc tế của Cảnh sát cơ động và các hành vi bị nghiêm cấm. Chương này tập trung làm rõ một số vấn đề quan trọng sau: Quy định về vị trí, chức năng; nguyên tắc hoạt động và hợp tác quốc tế của Cảnh sát cơ động nhằm tạo hành lang pháp lý cho Cảnh sát cơ động trong thực hiện nhiệm vụ.
Chương II (Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cảnh sát cơ động): Quy định về nhiệm vụ; quyền hạn; xây dựng và thực hiện phương án; biện pháp công tác; hệ thống tổ chức và cơ cấu lực lượng của Cảnh sát cơ động; nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động; trách nhiệm của Tư lệnh Cảnh sát cơ động và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; huy động người, phương tiện, thiết bị; điều động Cảnh sát cơ động thực hiện nhiệm vụ và phối hợp giữa Cảnh sát cơ động với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ. Chương này tập trung làm rõ một số vấn đề quan trọng sau:
Xác định 07 nhóm nhiệm vụ cơ bản của Cảnh sát cơ động, trong đó kế thừa những nhiệm vụ còn phù hợp của Pháp lệnh Cảnh sát cơ động, đồng thời bổ sung 02 nhiệm vụ cho Cảnh sát cơ động, đây là các nhiệm vụ trên thực tế Cảnh sát cơ động đang thực hiện, nay cần được luật hóa để bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất, nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi, gồm: (1) Huấn luyện, bồi dưỡng điều lệnh, quân sự, võ thuật, kỹ thuật, chiến thuật đối với Cảnh sát cơ động và cán bộ, chiến sĩ, học viên trong Công an nhân dân; huấn luyện công tác phòng, chống khủng bố cho lực lượng chuyên trách và lực lượng bảo vệ thuộc các bộ, ngành, địa phương. (2) Phối hợp với các lực lượng trong Công an nhân dân và các lực lượng, đơn vị có liên quan thực hiện nhiệm vụ có tính chất phức tạp trong đấu tranh, phòng chống tội phạm bảo đảm an ninh, trật tự; phòng, chống, khắc phục thảm họa, thiên tai, dịch bệnh; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc các bộ, ngành, địa phương trong bảo đảm an ninh, trật tự và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
- Quy định cụ thể 07 quyền hạn của Cảnh sát cơ động, trong đó bổ sung thêm 02 quyền hạn mới phù hợp với yêu cầu thực tế thực hiện nhiệm vụ của Cảnh sát cơ động gồm: (1)Được mang theo người vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ vào cảng hàng không và lên tàu bay dân sự trong các trường hợp chống khủng bố, giải cứu con tin, trấn áp đối tượng có hành vi phạm tội nguy hiểm có sử dụng vũ khí; bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt, áp giải bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và sử dụng tàu bay riêng do cấp có thẩm quyền huy động để kịp thời cơ động giải quyết các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự. (2) Ngăn chặn, vô hiệu hóa phương tiện bay không người lái và các phương tiện khác trực tiếp tấn công, xâm phạm hoặc đe dọa tấn công, xâm phạm mục tiêu bảo vệ của Cảnh sát cơ động.
- Bổ sung, làm rõ quy định về hoạt động của Cảnh sát cơ động gồm: Xây dựng và thực hiện phương án; biện pháp công tác; sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và huy động người, phương tiện, thiết bị đảm bảo tuân thủ quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
- Điều chỉnh, làm rõ quy định về thẩm quyền điều động Cảnh sát cơ động thực hiện nhiệm vụ của Tư lệnh Cảnh sát cơ động và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm bảo chặt chẽ, linh hoạt, phù hợp với thực tế triển khai thực hiện nhiệm vụ của Cảnh sát cơ động.
- Bổ sung quy định về phối hợp giữa Cảnh sát cơ động với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ, trong đó quy định rõ nguyên tắc phối hợp, nội dung phối hợp và cơ chế chỉ huy Cảnh sát cơ động trong phối hợp giải quyết các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự.
Chương III (Bảo đảm hoạt động và chế độ, chính sách đối với Cảnh sát cơ động): Quy định về kinh phí và cơ sở vật chất bảo đảm; trang bị; trang phục, công an hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, giấy chứng minh Công an nhân dân, giấy chứng nhận công tác đặc biệt của Cảnh sát cơ động; chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động; tuyển chọn công dân vào Cảnh sát cơ động; đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động. Trong đó, dự thảo Luật bổ sung quy định về tuyển chọn công dân vào Cảnh sát cơ độngvà bố trí sử dụng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, hoạt động và quy mô cơ cấu quân số của từng lực lượng thuộc Cảnh sát cơ động.
Chương IV (Quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với Cảnh sát cơ động): Quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với Cảnh sát cơ động; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với Cảnh sát cơ động; trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; trách nhiệm và chế độ chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp, cộng tác, hỗ trợ, giúp đỡ Cảnh sát cơ động.
Chương V (Điều khoản thi hành): quy định về hiệu lực thi hành.
Xin trân trọng cảm ơn đồng chí.