1. Sáng ngày 23/5/2023, Thảo luận ở hội trường về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023.
Tham gia ý kiến về nội dung này, đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh – Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ĐBQH tỉnh Khánh Hoà cho rằng cần xem xét Quốc hội đã thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất trong công tác lập hiến, lập pháp chưa? Tại sao Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất trong công tác lập hiến, lập pháp mà vẫn có tình trạng luật ban hành nhưng vẫn phải có các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thì mới thực hiện được? Cách xây dựng pháp luật hiện nay được thể hiện trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã thể hiện đúng tinh thần Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất về lập hiến, lập pháp chưa? Nếu Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực sự tối ưu thì tại sao tuổi thọ của nhiều đạo luật chỉ có trên dưới 10 năm.
Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh cho rằng, nếu tiếp tục tư duy lập pháp hiện nay theo hướng cơ quan nào chủ trì dự thảo luật sẽ trình dự luật đó cho Quốc hội, Quốc hội sẽ xem xét đưa vào kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm thì sẽ không tránh khỏi việc Quốc hội vẫn phải chạy theo và vẫn có việc bị động. Do đó, đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải mạnh mẽ và quyết đoán hơn nữa, ở chỗ những cơ quan nào vi phạm về thời gian là dừng không đưa ra Quốc hội.

Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Ngoài ra, đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh cũng đề nghị Quốc hội cần có tính toán thêm về việc sẽ quyết định cho các cơ quan nào, tổ chức nào và cá nhân nào tham gia Ban soạn thảo dự thảo các đạo luật. Đồng thời, cần phải có kế hoạch xây dựng pháp luật trong cả nhiệm kỳ và khi điều chỉnh xây dựng pháp luật hàng năm theo kế hoạch cần phải giải trình một cách thấu đáo, thuyết phục.
2. Sáng này 24/5, Thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi).
Phát biểu ý kiến về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) tại phiên họp, ĐBQH Đỗ Ngọc Thịnh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ĐBQH tỉnh Khánh Hòa cho rằng, chỉ nên góp ý, xem xét Luật Đấu thầu (sửa đổi) là một Luật quy định về hình thức chứ không phải một Luật quy định về nội dung, để tránh chồng lấn với các Luật khác có liên quan như Luật Dược, Luật Đất đai (sửa đổi)…

Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Do vậy, đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh đề nghị cần xem xét lại phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi). Bởi nội dung rất nhiều thứ đặc thù. Ví dụ đấu thầu thực hiện dự án đầu tư, đấu thầu phát triển dự án bất động sản, đấu giá đất, đấu thầu thuốc, đấu thầu thực hiện cơ chế giá điện cạnh tranh trên thị trường điện…
Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng, đối với những hợp đồng không thể so sánh được về giá thì không nên đấu thầu. Ví dụ như hợp đồng tư vấn, nhất là trong tố tụng trọng tài không có tương đương để so sánh, so sánh giá hoặc so sánh trình độ lúc đó về thời gian quá cấp thiết.
Theo đại biểu Thịnh, cần phải cho phép chọn nhà thầu theo hình thức chào hàng cạnh tranh. Do quá trình chuẩn bị đấu thầu diễn ra rất dài, do vậy nên quy định một điều khoản đối với gói thầu nhỏ. Việc cho phép tiến hành nhanh chóng theo thủ tục rút gọn và việc xác định thế nào gói thầu nhỏ sẽ do Chính phủ quy định. Đại biểu đề nghị Luật Đấu thầu (sửa đổi) lần này nên có hai quy trình: quy trình thông thường và quy trình rút gọn.
Ở góc nhìn khác, đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh – Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hoà đề nghị, cần bổ sung một trường hợp chỉ định thầu cụ thể như sau: Gói thầu tư vấn giải quyết tranh chấp tại trọng tài và Tòa án mà cơ quan tổ chức đấu thầu là bị đơn và cần có người bảo vệ ngay theo trình tự tố tụng giải quyết tranh chấp. Luận giải cho đề xuất này, đại biểu cho biết, giải quyết tranh chấp là công việc đặc thù, mang tính cấp bách cần nhanh chóng giải quyết để ngăn ngừa tổn thất cho cơ quan, tổ chức đấu thầu, tránh ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án.
3. Sáng ngày 25/5
- Thảo luận ở tổ về:
+ Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2022; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2023.
+ Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2022.
+ Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2021.
+ Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án Hồ chứa nước Ka Pét, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
+ Quyết định chủ trương đầu tư Dự án đường giao thông từ Quốc lộ 27C đến đường tỉnh ĐT.656 tỉnh Khánh Hòa - kết nối với Lâm Đồng và Ninh Thuận.
+ Việc giao danh mục và mức vốn cho các nhiệm vụ, dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; giao, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2021-2025 và phân bổ kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương năm 2023 của chương trình mục tiêu quốc gia.
+ Việc tiếp tục thực hiện chính sách giảm thuế giá trị gia tăng 2% theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022.
+ Chủ trương đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
Tham gia thảo luận vào các nội dung trên, Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa có:
Đại biểu Quốc hội Lê Hữu Trí, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa, đã có những đánh giá về việc bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2022; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2023 và đưa ra các đề xuất, kiến nghị gửi đến Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành:

Đại biểu Quốc hội Lê Hữu Trí, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa
Một là, có giải pháp hữu hiệu, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh để thúc đẩy sản xuất kinh doanh; phải có giải pháp bảo đảm cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Đây là yêu cầu đặt ra rất khó khăn trong khi chúng ta vừa phải kiểm soát lạm phát, vừa phải bảo đảm lãi suất phù hợp với nền kinh tế và diễn biến của thị trường.
Theo báo cáo của Chính phủ, Quý I, tăng trưởng kinh tế chỉ bằng 3,32% rất thấp (mức tăng trưởng trên được so sánh trên cơ sở nền kinh tế Quý I/2022 vẫn đang chịu tác động bởi các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội để phòng chống dịch). Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động giảm, trong khi đó số doanh nghiệp giải thể, phá sản tăng, số doanh nghiệp thiếu đơn hàng diễn ra phổ biến, người lao động mất việc làm tại nhiều khu công nghiệp, xu hướng này có thể diễn biến phức tạp hơn trong thời gian tới (bình quân một tháng có 19,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Nhiều doanh nghiệp đối diện áp lực trả nợ lớn nên phải chuyển nhượng doanh nghiệp, bán cổ phần với mức giá rất thấp, trong nhiều trường hợp phải bán cho đối tác nước ngoài). Có nhiều nguyên nhân nhưng bên cạnh nguyên nhân khách quan như: do đứt gãy thị trường xuất khẩu, nhất là các thị trường xuất khẩu chính của VN, sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới giảm mạnh, hàng tồn kho tăng cao (81,8%), đơn giá thấp; giá cả vật tư, nguyên liệu của nhiều mặt hàng nước ta phải nhập khẩu tăng cao, nhiên liệu tăng cao...thì có nguyên nhân dòng vốn từ thị trường tài chính suy giảm, mặt bằng lãi suất cho vay tăng mạnh trong năm 2022 và vẫn duy trì ở mức cao trong Quý I/2023 (9,30%-10,23%), việc doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng rất khó khăn, lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm...làm giảm hoạt động đầu tư từ khu vực tư nhân. Tỉ lệ khả năng thanh toán bằng tiền mặt chỉ đạt 0,09 lần (cùng kỳ năm 2022 là 0,19 lần) cho thấy khu vực doanh nghiệp gặp những khó khăn liên quan đến dòng tiền. Qua kết quả khảo sát của VCCI, những khó khăn hàng đầu mà doanh nghiệp gặp phải là tiếp cận tín dụng có nhiều trở ngại, bao gồm cả tín dụng, nguồn vốn lãi suất ưu đãi của Chính phủ và nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ DN nhỏ và vừa. (79,4% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu không có tài sản thế chấp; 58,7% các ngân hàng, tổ chức tín dụng áp đặt điều kiện tín dụng bất lợi cho doanh nghiệp tư nhân; 58,6% thủ tục vay vốn phiền hà; 55,8% doanh nghiệp phải bồi dưỡng cho cán bộ tín dụng để được vay vốn; 49,8% cán bộ tín dụng cố tình bắt lỗi, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ của doanh nghiệp) là rất đáng lo ngại. Đây là một trong những yếu tố làm cho doanh nghiệp đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phá sản, giải thể, bán lại doanh nghiệp. Tôi đề nghị cần điều hành chính sách tài khoá có trọng tâm, trọng điểm, chia sẻ vai trò hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế với chính sách tiền tệ; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá, chính sách vĩ mô khác hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng nhưng cần tính toán đến áp lực gia tăng lạm phát; cần chủ động xem xét tiếp tục hạ lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng; kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng sử dụng vốn và hạn mức tăng trưởng tín dụng.
Hai là, cần có giải pháp hữu hiệu, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật để khắc phục ngay những hạn chế, yếu kém của công tác đầu tư công vốn đã kéo dài nhiều năm. Đầu tư công được xem là công cụ dẫn dắt, vốn mồi, kích thích tiêu dùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên, qua báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính ngân sách cho thấy: Công tác này còn nhiều tồn tại, yếu kém kéo dài (từ công tác xây dựng kế hoạch, lập dự án đầu tư, phân bổ vốn, triển khai thi công, giải ngân, quyết toán vốn...) có tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Theo báo cáo: đến hết tháng 4/2023, có 03 bộ và 19 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 20%, 47/52 bộ, cơ quan và 27/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 15%, thậm chí có 32 bộ, cơ quan và 01 địa phương giải ngân đạt dưới 5% kế hoạch. Việc triển khai thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội như: gói hỗ trợ thuê nhà cho người lao động chỉ đạt gần 60%; gói hỗ trợ lãi suất 2%/ năm cho doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh thông qua hệ thống ngân hàng thương mại đạt kết quả rất thấp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đều do nguyên nhân chủ yếu ở khâu tổ chức thực hiện. Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ yêu cầu làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm và có giải pháp xử lý, không để tình trạng này tiếp tục kéo dài, tạo hệ lụy xấu đến điều hành kinh tế vĩ mô và tài chính ngân sách nhà nước.
Ba là, cần có biện pháp thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong việc chấp hành pháp luật về tài chính ngân sách nhà nước. Trong đó, (1) cần có biện pháp quyết liệt để khắc phục những tồn tại, yếu kém trong nhiệm vụ lập dự toán ngân sách nhà nước ở từng cấp (như: lập dự toán không sát với thực tế, hạn chế việc tăng thu từ tiền sử dụng đất...); nhiều địa phương chủ yếu dựa vào nguồn thu từ sử dụng đất là khoản thu không bền vững cho cân đối ngân sách, vì vậy, cần có chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch quản lý, khai thác hợp lý, thận trọng, có lộ trình phù hợp, bảo đảm khai thác hiệu quả, lâu dài tài nguyên đất; đồng thời việc sử dụng nguồn thu từ đất phải tập trung ưu tiên cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội; việc chi tiêu không đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ đã ban hành. (2) Kiên quyết không cho chuyển nguồn khi chưa làm rõ nguyên nhân và không chuyển nguồn trái quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng chuyển nguồn vốn qua các năm khá lớn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, công tác điều hành tài chính ngân sách và điều hành kinh tế vĩ mô. (3) rà soát, làm rõ nguyên nhân, tháo gỡ các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không để tiếp tục làm lãng phí nguồn lực, vốn nhà nước; cần xác định và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước chậm triển khai, vi phạm trong cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước (theo báo cáo của Chính phủ thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp 03 năm không đạt dự toán, năm 2022 số thu rất thấp, chỉ đạt 3,8 nghìn tỷ, giảm 26,2 nghìn tỷ so với dự toán). (4) Có giải pháp khắc phục dứt điểm tình trạng lãng phí trong quản lý, sử dụng đất đai; nhất là tình trạng bỏ hoang hoá đất nông nghiệp, lãng phí đất đai, tài sản của các dự án do chậm thi hành án, chậm thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra...Có giải pháp chấn chỉnh triệt để các hiện tượng, các yếu tố gây lãng phí ngân sách nhà nước, không để các yếu tố, hiện tượng này tiếp tục kéo dài (các yếu tố, hiện tượng này đã nêu rất rõ trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội).
Bốn là, có giải pháp căn cơ để khắc phục những tồn tại, vướng mắc vấn đề xăng dầu, điện...nhất là việc tăng giá điện, xăng dầu trong bối cảnh doanh nghiệp và đời sống nhân dân đang gặp nhiều khó khăn do tác động của kinh tế thế giới. Cần thiết phải làm rõ tính chính xác, nguyên nhân của khoản lỗ hơn 26 nghìn tỷ đồng năm 2022 của EVN để sớm có biện pháp tháo gỡ bất cập và tạo đồng thuận trong nhân dân và minh bạch trong việc quản lý sử dụng quỹ bình ổn xăng dầu.
Năm là, có biện pháp chấn chỉnh ngay lề lối làm việc của bộ máy nhà nước các cấp, nhất là tình trạng cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nói chung và cán bộ, công chức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý nói riêng có biểu hiện sợ trách nhiệm, né tránh, không giải quyết các thủ tục hành chính hoặc gây ách tắc, kéo dài khi giải quyết các thủ tục hành chính của dân và doanh nghiệp. Tình trạng trì trệ trong hoạt động điều hành của bộ máy nhà nước ở nhiều nơi, gây khó khăn, ách tắc trong giải quyết các thủ tục hành chính cho dân và doanh nghiệp đã làm cho doanh nghiệp, người dân đã và đang khó khăn lại càng khó khăn hơn, làm mất nhiều thời gian, tăng chi phí không chính thức và làm mất cơ hội của người dân và doanh nghiệp; trong nhiều trường hợp vi phạm, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân được Hiến pháp quy định. Đồng thời, khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định của pháp luật không rõ ràng, khó thực hiện trên thực tiễn, thiếu đồng bộ, xung đột pháp luật nhằm tháo gỡ kịp thời các bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật gây ách tắc, điểm nghẽn hiện nay trên các lĩnh vực; đây là yêu cầu rất quan trọng, không những cả trước mắt và cả lâu dài để cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội phát sinh.
Sáu là, tập trung giải quyết sớm các vấn đề mà xã hội có nhiều bức xúc như: tình trạng chậm thi hành hoặc không thi hành các bản án hành chính, dân sự đã có hiệu lực pháp luật gây nhiều khó khăn, thiệt hại và mất lòng tin của nhân dân; tình trạng mất việc làm có xu hướng tăng cao; số người lao động rút BHXH một lần tiếp tục tăng; vấn đề bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, tệ nạn xã hội, buôn lậu, lừa đảo với nhiều hình thức, nhất là trên không gian mạng v.v...
Đại biểu Hà Quốc Trị, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa kiến nghị Việc mở rộng phạm vi để áp dụng đối với tất cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10% sẽ giúp đạt được hai mục tiêu là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế từ phía sản xuất kinh doanh, từ phía tiêu dùng góp phần giảm lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đại biểu Hà Quốc Trị, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa
Theo Nghị quyết 43 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi phát triển kinh tế - xã hội thì dự thảo nghị quyết đã mở rộng đối tượng được hỗ trợ theo hướng giảm 2% cho tất cả hàng hóa, dịch vụ có mức thuế suất GTGT 10% không loại trừ đối với một số hàng hóa, dịch vụ như là viễn thông, công nghệ thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khoáng sản không kể khai thác than cũng như là than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Đây cũng là những lĩnh vực khó khăn, cần kích cầu tiêu dùng nên không loại trừ. Nền kinh tế là một thực thể liên hoàn. Ngành được giảm, ngành không được sẽ làm khó khăn cho hoạt động kinh tế, tạo ra cách phân biệt đối xử trước những khó khăn chung của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc giảm thuế GTGT cho tất cả cho hàng hóa, dịch vụ có mức thuế suất GTGT 10% là hết sức cần thiết, kịp thời, đúng đắn, nhận được sự đồng thuận cao và đáp ứng được mong mỏi từ cộng đồng doanh nghiệp.
4. Chiều 25/5, Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa tham gia thảo luận tại Hội trường về Luật Hợp tác xã (sửa đổi)
Phát biểu tại hội trường về nội dung này, Đại biểu Hà Hồng Hạnh bày tỏ nhất trí cao với báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi). Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu góp ý một số vấn đề:

Đại biểu Quốc hội Hà Hồng Hạnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa
- Thứ nhất, tại Điều 16 phân loại hợp tác xã, dự thảo quy định hợp tác xã được phân loại siêu nhỏ, nhỏ, vừa, lớn theo tiêu chí số lượng thành viên chính thức và theo các tiêu chí doanh thu hoặc tổng nguồn vốn và được xác định theo lĩnh vực hoạt động. Sự quy định này cho thấy các vấn đề phát sinh như chưa cho thấy sự cần thiết phải phân loại hợp tác xã, phân loại để làm gì? Để đảm bảo trong công tác quản lý nhà nước hay phân loại để được hưởng các chính sách hỗ trợ khác mà không có quy định trong dự thảo luật. Ngoài ra, khả năng quy mô hợp tác xã thay đổi theo thời gian về số lượng thành viên và tổng nguồn vốn là có thể xảy ra, việc điều chỉnh, đăng ký nội dung thay đổi như dự thảo luật quy định tại điều 47, 48 là không phải dễ dàng.
- Thứ hai, về chính sách hỗ trợ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tại Điều 28 : đề nghị bổ sung Chính sách hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh: Tùy theo mức độ thiệt hại, tính chất nguy hiểm của dịch bệnh và nhu cầu thực tế, tổ hợp tác, HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp được hỗ trợ, ưu đãi về vốn, giống theo quy định của pháp luật hiện hành để khôi phục sản xuất đối với vùng bị thiệt hại do thiên tai dịch bệnh.
Ngoài ra đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung chính sách ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ, tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức là người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển mô hình kinh tế hợp tác nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của vùng và giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo, cải thiện cuộc sống. Hiện nay, có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội, trong đó có kinh tế hợp tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được thực hiện lồng ghép vào các đề án, chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu đưa vào luật để thực hiện hiệu quả hơn.
- Thứ ba, về các trường hợp giải thể HTX, liên hiệp HTX, đề nghị rà soát bổ sung quy định về các trường hợp giải thể tại Điều 97 vì thực tế có những trường hợp không tiến hành giải thể được như một số HTX cũ thành lập trước đây hoạt động không còn hiệu quả hoặc dừng hoạt động trong thời gian dài nhưng không thực hiện giải thể do vướng mắc các giấy tờ liên quan hoặc do người đại diện chết, mất tích, nhiều thành viên bỏ đi nơi khác không liên lạc được... do đó đề nghị có quy định, hướng dẫn giải quyết dứt điểm để HTX có thể giải thể được theo quy định của pháp luật.
- Thứ tư, về chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên trong HTX, liên hiệp HTX : ban soạn thảo đưa ra 2 phương án thì tôi chọn phương án 2, đó là không quy định về chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên HTX, liên hiệp HTX mà chỉ quy định về trả lại phần vốn góp khi chấm dứt tư cách thành viên, ra khỏi HTX, liên hiệp HTX theo quy định của Luật Hợp tác xã và Điều lệ, tương tự như quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2012 nhằm tránh hiện tượng mua, bán phần vốn góp, hạn chế tình trạng thâu tóm, chi phối của một số cá nhân, tổ chức. Khi thành viên không còn nhu cầu là thành viên của HTX, liên hiệp HTX thì có thể xin ra và chấm dứt tư cách thành viên theo quy định của Luật; và ngược lại, các cá nhân, tổ chức khác có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện thì trở thành thành viên HTX, liên hiệp HTX.
Và như vậy, theo đó tại dự thảo luật đề nghị ban soạn thảo bỏ các quy định liên quan đến chuyển nhượng phần vốn góp.
- Thứ năm, về Quỹ chung không chia tại điều 85. Dự thảo luật chỉ quy định cho loại hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mà không quy định cho tổ hợp tác. Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu thêm vì hoạt động của tổ hợp tác cũng được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như trong dự thảo luật đã nêu từ điều 21 đến điều 27. Do đó tổ hợp tác cũng cần trích lập quỹ chung không chia nhằm dự phòng nguồn quỹ khi các sự cố rủi ro có thể xảy ra.
Ngoài ra, để thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển, đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu thêm các quy định để khuyến khích mô hình tổ hợp tác phát triển và thu hút hộ cá thể tham gia. Bởi tổ hợp tác chính là nguồn để phát triển lên HTX và đảm bảo cho mục tiêu đến 2025, cả nước có khoảng 134 ngàn tổ hợp tác và 35 ngàn HTX.
- Thứ sáu, về Điều 108 chuyển đổi tổ hợp tác thành hợp tác xã. Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu lại tỷ lệ quy định số thành viên tán thành vì để được tất cả các thành viên tán thành là rất khó, hiện nay có một số tổ hợp tác có số lượng thành viên từ 20- 25 người. Nếu quy định tỷ lệ 100% thành viên tán thành sẽ gây ra những khó khăn trong việc chuyển đổi giống việc giải thể hợp tác xã theo quy định trước đây

Đại biểu Quốc hội Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Cũng tham gia phát biểu góp ý vào nội dung này, Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sự Việt Nam nêu rõ, nhiều quốc gia cũng đã cụ thể hóa các loại hình hợp tác xã đặc thù như Nhật Bản, Trung Quốc, tập trung các ngành nghề cần phát triển theo hướng hợp tác xã. Do vậy, đại biểu đề xuất tại dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi) lần này cần có chương quy định cụ thể về các loại hình hợp tác xã để khuyến khích phát triển các loại hình hợp tác xã như: hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã xây dựng…
5. Sáng 26/5, Quốc hội Thảo luận tại hội trường một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi).
Thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi), đại biểu Lê Xuân Thân, Chủ tịch Hội Luật gia Khánh Hòa đề nghị Ban soạn thảo đề nghị bỏ điều kiện khống chế để có thể áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự đối với các giao dịch từ 100 triệu đồng trở lên.
Theo đại biểu, mục tiêu đặt ra của dự án Luật này bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, do đó, đối với vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng Dân sự hoặc khi có đủ một số điều kiện cụ thể được quy định trong dự thảo Luật. Bên cạnh đó, trong Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng không quy định điều kiện hạn chế áp dụng thủ tục rút gọn như đối với các giao dịch trên hay dưới 100 triệu đồng. Do đó, đại biểu Lê Xuân Thân đề nghị bỏ điều kiện khống chế này trong dự thảo Luật.

Đại biểu Lê Xuân Thân, Chủ tịch Hội Luật gia Khánh Hòa
Đại biểu Lê Xuân Thân cho rằng cần bảo vệ sự thống nhất trong công tác xây dựng pháp luật. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau cần tôn trọng các văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng, ban hành trước đó. Đại biểu cho biết, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rõ, mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này. Khoản 3 Điều 316 của Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định: Trường hợp luật khác có quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo thủ tục quy định tại Phần này.
Đại biểu đề nghị tại Điều 70, dự thảo Luật sửa thành: Vụ án bảo vệ quyền lợi nhiều người tiêu dùng thì thực hiện theo thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, đại biểu cho biết Điều 78 của dự thảo luật về Bổ sung khoản 5 của Điều 317 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 317 như sau: “5. Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này hoặc quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”. Đại biểu đề nghị bỏ Điều này để đảm bảo sự thống nhất trong xây dựng pháp luật.
Cũng thao gia thảo luận về nội dung này, Đại biểu Hà Hồng Hạnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa nhất trí cao với báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại biểu cho rằng cơ quan thẩm tra đã tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các đại biểu để chỉnh sửa dự thảo luật hoàn thiện hơn.

Đại biểu Hà Hồng Hạnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa
Cho ý kiến về Điều 5 quy định về Nghĩa vụ của người tiêu dùng, đại biểu đề nghị bổ sung khoản 1 cụm từ “thỏa thuận thống nhất giá cả sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Theo đó, khoản này được sửa thành: “Kiểm tra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trước khi nhận theo quy định của pháp luật; lựa chọn tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, thỏa thuận thống nhất giá cả sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh.”
Bên cạnh đó, tại khoản 4, đại biểu cũng đề nghị thêm cụm từ “kịp thời, chính xác” vào sau từ “thông tin”, và sửa khoản này thành “Thông tin kịp thời, chính xác cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.”
Về khoản 2, Điều 7, đại biểu cũng đề nghị thêm cụm từ “có sáng kiến nghiên cứu” vào sau từ “kinh doanh”. Theo đó, khoản này được sửa thành: “Khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh có sáng kiến nghiên cứu ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.
6. Chiều 27/5, thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
Tham gia phát biểu ý kiến về 2 nội dung này, Đại biểu Lê Hữu Trí, Phó Trường Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa có ý kiến như sau:
Phát biểu về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân, Đại biểu cơ bản đồng tình với nhiều nội dung sửa đổi trong dự thảo luật; tuy nhiên đề nghị cơ quan soạn thảo cần xem xét thêm một số vấn đề sau: đề nghị cơ quan soạn thảo có sự rà soát chính sách phong hàm, để có tính tương đồng giữa các lực lượng vũ trang nhân dân (công an, quân đội, biên phòng…). và phù hợp với các luật đã ban hành trước đó như Luật Sĩ quan Quân đội và Luật Thi đua khen thưởng….
Tham gia phát biểu về Luật Xuất nhập cảnh, đại biểu Lê Hữu Trí có ý kiến:
Việc quy định khai báo cho công an là phù hợp dưới góc độ quản lý hành chính nhưng cần quy định việc phối hợp cung cấp thông tin khai báo với lực lượng biên phòng cửa khẩu để bảo đảm tương thích với chức năng nhiệm vụ của lực lượng biên phòng đã được quy định tại Luật Biên phòng, Luật An ninh quốc gia, các hiệp định quản lý biên giới mà Việt Nam đã ký kết với các nước như: Lào, Campuchia.

Đại biểu Lê Hữu Trí, Phó Trường Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa
Về quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc phát hiện dấu hiệu vi phạm của người nước ngoài quy định tại khoản 8 Điều 2 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 45a. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chỉ quy định chỉ có công an xã mới có thẩm quyền tiếp nhận các vụ việc có dấu hiệu vi phạm, cư trú bất hợp pháp của người nước ngoài là chưa phù hợp, chưa đồng bộ, chưa đảm bảo tương thích với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như: Bộ Luật Tố tụng hình sự, Luật An ninh Quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam… Đề nghị bổ sung thêm Đồn biên phòng khu vực ở khu vực biên giới, cửa khẩu có thẩm quyền tiếp nhận các vụ việc có dấu hiệu vi phạm, cư trú bất hợp pháp của người nước ngoài.
Việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật về xuất nhập cảnh hiện hành; trong đó, theo hướng nâng thời hạn đối với công dân được đơn phương miễn thị thực từ 15 ngày lên không quá 3 tháng; thị thực điện tử có giá trị nhiều lần; điều kiện cấp thị thực điện tử (theo hướng mở rộng diện cấp thị thực điện tử cho công dân các nước, vùng lãnh thổ và mở rộng điều kiện cấp); nâng thời hạn cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu cho người nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực (từ 15 ngày lên 45 ngày)... là cần thiết. Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-1-2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nghị quyết cũng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục hoàn thiện, ban hành chính sách tạo thuận lợi tối đa và đơn giản về thủ tục thị thực nhập cảnh cho khách quốc tế đến Việt Nam”. Với việc sửa đổi, bổ sung dự án Luật lần này, hy vọng sẽ tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi nhất định cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, điều đó sẽ tạo điều kiện thu hút khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam. Đồng thời, sẽ có tác động nhất định đến phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, nhất là về du lịch, kinh doanh thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Tham gia ý kiến vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân đại biểu Hà Quốc Trị, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa có ý kiến như sau: Ban soạn thảo cũng cân nhắc nội dung như: Chính phủ quy định chi tiết về việc thăng quân hàm cấp tướng trước thời hạn đối với sĩ quan có thành tích đặc biệt xuất sắc theo khoản 2 Điều 1 dự thảo luật sửa đổi, nếu so sánh với Luật Sĩ quan Quân đội nhân Việt Nam sửa đổi năm 2014 cũng như Luật Thi đua khen thưởng 2013 thì trong hai luật này quy định cụ thể luôn những điều kiện, tiêu chí, tiêu chuẩn. Vì vậy, đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể luôn những điều kiện, tiêu chí, tiêu chuẩn để phong hàm trong dự án Luật này.

Đại biểu Hà Quốc Trị, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa
Đại biểu Lê Xuân Thân, Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh Khánh Hòa cũng tham gia góp ý vào 2 dự án Luật này. Đại biểu tán thành về sự cần thiết ban hành 2 dự án Luật này. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo cần tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý của các đại biểu tại buổi thảo luận tổ, thảo luận trên hội trường để hoàn thiện dự thảo luật, tránh trường hợp Luật mới ban hành lại sửa đổi, bổ sung.
Về hiệu lực thi hành của 2 dự án Luật này, đề nghị cơ quan soạn thảo xác định rõ là có hiệu lực thi hành khi nào.

Đại biểu Lê Xuân Thân, Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh Khánh Hòa
NTN