* Trả lời: Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau:
1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Như vậy, đặc điểm của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải là người thành niên nhưng do tình trạng sức khỏe hoặc tinh thần dẫn đến khả năng nhận thức của họ cũng sẽ bị hạn chế. Những người có khó khăn trong việc nhận thức, làm chủ hành vi sẽ gặp khó khăn trong việc thể hiện ra bên ngoài ý chí đích thực của mình so với những người có năng lực nhận thức bình thường.
Điều này có nghĩa là khi tham gia vào các giao dịch dân sự với những người không bị các khiếm khuyết, nhược điểm về thể chất dẫn đến hạn chế trong khả năng nhận thức bình thường rõ ràng có sự bất xứng giữa các bên chủ thể. Phần thiệt thòi, nếu có trong những trường hợp này thường nghiêng về phía những người có khiếm khuyết về thể chất dẫn đến hạn chế về năng lực nhận thức.
Đối với giao dịch dân sự của người có khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi thì Điều 125 BLDS 2015 quy định:
1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Với quy định này, quyền và lợi ích hợp pháp của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được bảo vệ một cách triệt để. Những người này được xem là những người “yếu thế” khi tham gia xác lập các giao dịch dân sự. Bản thân những người này vẫn có khả năng để nhận thức và làm chủ hành vi ở một mức độ hạn chế, do đó, không thể dùng quy định về mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự để áp dụng cho họ. Bên cạnh đó, không hạn chế khả năng giao lưu dân sự của họ này mà vẫn tạo ra sự linh hoạt nhất định khi thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người đó. Bởi lẽ, họ vẫn có thể tự mình xác lập thực hiện các giao dịch dân sự nhất định. Ngoài ra, vì sự giới hạn trong khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của những đối tượng này, nên một số giao dịch phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người đó.
Luật gia – Phan Gia Ngọc