[Đăng ngày: 27/03/2017]


Trần Lưu – Khánh Vĩnh
  Trả lời:

  Ở Việt Nam, các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc như: nam nữ tự do tìm hiểu; hoặc sau khi kết hôn, theo thỏa thuận giữa hai gia đình, vợ, chồng, có thể cư trú ở nhà vợ hoặc ở nhà chồng ; cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra,… không bị nghiêm cấm và vẫn khuyến khích phát huy, áp dụng.

  Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng. 

  Theo Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình được quy định như sau: Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng. Cụ thể: 

  1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

  2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

  3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

  4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

  5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

  Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 hướng dẫn Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc áp dụng tập quán (Điều 2) và việc tuyên truyền, vận động Nhân dân về áp dụng tập quán (Điều 5) như sau: 

  Điều 2. Nguyên tắc áp dụng tập quán

  1. Tập quán được áp dụng phải là quy tắc xử sự phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  2. Việc áp dụng tập quán phải tuân theo các điều kiện được quy định tại Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về tập quán được áp dụng.

  Điều 5. Tuyên truyền, vận động nhân dân về áp dụng tập quán

  1. Các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng, thực hiện các chính sách, biện pháp sau đây:

  a) Tạo điều kiện để người dân thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, xóa bỏ tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình;

  b) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, vận động người dân phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp và xóa bỏ tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình;

  c) Giáo dục thế hệ trẻ bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, chữ viết và phát huy các giá trị văn hóa trong tập quán tốt đẹp của mỗi dân tộc.

  2. Tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình là tập quán trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 2 của Luật Hôn nhân và gia đình hoặc vi phạm điều cấm quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  Và khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm:”Yêu sách của cải trong kết hôn” .

  Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên thì thách cưới là phong tục, tập quán lạc hậu, trái với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và bị nghiêm cấm. Quy định này nhằm xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu, gây ảnh hưởng đến hôn nhân gia đình tiến bộ, bình đẳng và hạnh phúc.

Luật gia – Phan Gia Ngọc
Các tin khác