[Đăng ngày: 27/03/2017]

Nguyễn Thế Lữ - Nha Trang 

  Trả lời:

  Theo quy định tại Điều 213 của Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ thể sở hữu không được xác định đối với tài sản chung. Nếu như tài sản trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm phát sinh tài sản chung thì nguồn gốc tài sản có ý nghĩa xác định cụ thể những tài sản nào thuộc về tài sản chung của vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.

  Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng như sau:

  1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

  2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

  3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

  4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

  5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.

  Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

  Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

  Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

  Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.

  Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận quy định tại Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể:

  Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

  - Bất động sản;

  - Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

  - Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Luật gia – Phan Gia Ngọc






Các tin khác