Luật Xây dựng 2015 và các văn bản hướng dẫn đã được ban hành tương đối đầy đủ, ngày càng hoàn thiện, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn, đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư có cơ sở triển khai các dự án đầu tư xây dựng, qua đó đã huy động được một lượng lớn nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát triển; đồng thời là công cụ hữu hiệu để các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng theo đúng pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, Luật Xây dựng 2015 cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng là cần thiết. trong phạm vi bài viết, tác giả nêu và góp ý một số vấn đề sau:
1. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật (Điều 1, 2): Hoạt động xây dựng có liên quan đến nhiều luật như Luật Đất đai, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công do đó cần phải có sự phân định, tách bạch rõ ràng về nội dung quản lý của các ngành, nếu không vẫn còn sự chồng chéo, lặp lại các nội dung công việc đã thực hiện tại các luật khác. Chẳng hạn, về chế định quy hoạch đã được quy định tại Luật Quy hoạch, Luật Quy hoạch đô thị nhưng Luật Xây dựng vẫn có một chương quy định về quy hoạch, về giới thiệu địa đã được quy định tại Điều 33 Luật Đầu tư nhưng tại Điều 46 Luật Xây dựng lại quy định nên dẫn đến quy định mâu thuẫn, lặp lại thực hiện chức năng, nhiệm vụ thuộc phạm vi giải quyết của các cơ quan khác do luật chuyên ngành khác điều chỉnh và thuộc giai đoạn trước khi thực hiện hoạt động xây dựng (Luật Xây dựng quy định cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng có trách nhiệm giới thiệu địa điểm đầu tư cho nhà đầu tư khi có yêu cầu, Luật Đầu tư quy định nhà đầu tư phải nộp “Đề xuất dự án đầu tư trong đó có nội dung về địa điểm đầu tư” khi thực hiện thủ tục quyết định đầu tư, còn về quy hoạch mặc dù đã có quy định về quy hoạch vùng, quy hoạch chức năng, quy hoạch khu chức năng đặc thù, công bố, công khai quy hoạch để tránh tình trạng đầu tư phân tán, khép kín giữa các địa phương nhưng thực tế vẫn còn chậm trễ dẫn đến nhà đầu tư khó có thể tiếp cận được với địa điểm đầu tư mà luật đã yêu cầu phải công khai, minh bạch).
Do đó, Luật Xây dựng cần phân định, tách bạch với những nội dung quản lý của ngành khác, chỉ quy định những gì thuộc hoạt động xây dựng. Đồng thời, cần chỉnh lý quy định của Luật Đầu tư về giới thiệu địa điểm đầu tư cho thống nhất với pháp luật về quy hoạch nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư cũng như khai thác tốt nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giá trị của việc quy hoạch.
2. Về thủ tục thẩm định dự án đầu tư xây dựng; thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng (Điều 56, 82): Đối với các dự án xây dựng có yêu cầu về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh nên xây dựng theo hướng hồ sơ được tiếp nhận tại cơ quan chuyên môn về xây dựng và cơ quan này có trách nhiệm phối hợp chuyển hồ sơ đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thẩm định các nội dung thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan đó nhằm đơn giản hoá giải quyết TTHC, không để chủ đầu tư phải liên hệ đến nhiều cơ quan.
Trên đây là ý kiến của tác giả, rất mong sự quan tâm của bạn đọc./.
Ngọc Gia